Máy sấy lúa không dùng điện

Từ những bất tiện trong việc sấy lúa tạo tiếng ồn lớn, tro bụi bay, giá điện lại ngày càng tăng cao, anh Nguyễn Hoàng Phi, cán bộ Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Phú Tân, tỉnh An Giang đã chế tạo thành công và đưa vào ứng dụng máy sấy lúa di động thân thiện với môi trường.

Những phát minh Tiêu biểu năm 2011

Kết thúc năm 2011, tạp chí Khoa học phổ thông (PS) của Mỹ đã bình chọn và công bố danh sách những phát minh tiêu biểu trong năm, trong số này có 10 phát minh nổi bật dưới đây, đã và đang được ứng dụng thành công trong cuộc sống...

Kỹ thuật trồng hoa Trà

Mỗi năm trà đơm hoa một vụ kéo dài tới vài ba tháng. Thâm hồng và phấn hồng lại nở hoa đúng vào dịp Tết nguyên đán. Bạch trà nở trước tết nhưng nếu cây to vẫn còn nhiều hoa chơi Tết, nay ta lại có thể điều khiển được để bạch trà nở rộ hoa đúng Tết..

Hiển thị các bài đăng có nhãn Chuyện Nông thôn. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Chuyện Nông thôn. Hiển thị tất cả bài đăng

11 thg 3, 2012

Cưỡng hiếp thiếu nữ, rồi xin đền con bò

- Ngày 11/3, Công an xã KrôngPa, huyện Sơn Hòa (tỉnh Phú Yên) cho biết: đang khẩn trương điều tra vụ em Kờ So Hờ T. (16 tuổi), trú tại xã KrôngPa, bị một người đàn ông đáng tuổi cha mình dụ dỗ, hãm hiếp.


Theo điều tra của cơ quan chức năng, biết rõ em Kờ So Hờ T. mang trong mình căn bệnh động kinh chữa lâu nay mà không khỏi, Kờ Sô Y Dót (45 tuổi), trú buôn Độc Lập A, xã KrôngPa liền giả danh thầy lang tìm đến nhà em T. nhằm mục đích lừa đảo. 

Giả làm thày lang (ảnh minh họa)
 
Sáng ngày 26/2, nhân lúc người nhà em T. không có mặt, Dót vừa khám vừa dùng lời ngon ngọt lẫn vũ lực để chiếm đoạt T.

Sau khi thỏa mãn, Dót tiếp tục lợi dụng sự ngây thơ của T. bằng lời đe dọa “sẽ bị thần vật chết nếu dám tiết lộ chuyện xảy ra cho bất cứ ai”. Lo sợ cho tính mạng, T. không dám kể chuyện của mình cho mọi người biết.

“Cá cắn câu”, vào lúc 16h10 chiều ngày 4/3, lấy lý do “khám chữa bệnh”, Dót tiếp tục dụ dỗ T. “làm chuyện vợ chồng”. Trong lúc thực hiện hành vi đồi bại, Dót bị một người đi đường vô tình phát hiện, bắt giữ tại trận.

Mặc dù Dót xin được đền một con bò và 1,5 triệu đồng nhưng gia đình T. không đồng ý và báo sự việc lên Công an xã KrôngPa.

4 thg 3, 2012

Nơi người nông dân mê hát

Không chỉ được biết đến là địa phương có loại quả đặc sản nổi tiếng - nhãn muộn, từ lâu xã Đại Thành (Quốc Oai) còn được biết đến là một trong những cái nôi của làn điệu chèo cổ. Những người nông dân hằng ngày vẫn "bán mặt cho đất, bán lưng cho trời" nhưng tối đến họ lại trở thành diễn viên, nhạc công nghiệp dư, cùng nhau tập luyện các bài hát, hoạt cảnh, điệu múa chèo. Thông qua những đêm diễn tại đình, chùa làng, họ đã khích lệ bà con hăng say lao động sản xuất.
Tiếng trống chèo vang lên, các thành viên trong CLB say sưa luyện múa. Ảnh: Đỗ Hà
Một ngày cuối tháng hai, khi việc đồng áng đã vợi, chúng tôi tìm về CLB Chiếu chèo và Nhạc lễ ở xã Đại Thành để được nghe những "nghệ sỹ" nông dân nơi đây trổ tài. Biết có khách đến, ông Hoàng Văn Sản phụ trách CLB đã mời đầy đủ các thành viên trong CLB đến nhà ông, vốn là nơi tập luyện hằng ngày của những người yêu loại hình nghệ thuật này. Thoạt nhìn, chúng tôi ngỡ đang chứng kiến một buổi chuẩn bị biểu diễn của đoàn chèo chuyên nghiệp nào đó. Nào trống, nhị... người thì khẩn trương trang điểm, sửa lại trang phục biểu diễn, tiếng nói cười rộn rã. Tại nhà ông Sản, khi tiếng trống chèo vang lên hòa cùng tiếng đàn, nhị... và giọng hát mượt mà của các nam, nữ diễn viên trong CLB, rất đông người kéo đến thưởng thức. Mỗi hoạt cảnh chèo, trích đoạn hay tiết mục hát đều có màn múa phụ họa với những động tác múa nón, múa quạt uyển chuyển do các diễn viên CLB biểu diễn. "Là nông dân bận việc đồng áng nhưng mỗi khi CLB trưng tập, chúng tôi lại gác hết mọi việc để đi hát" - Bà Lê Thị Thoa, thành viên CLB cho hay. Ngoài việc cấy 5 sào ruộng, bà còn trồng và chăm sóc gần một mẫu nhãn muộn và rau màu, nhưng mỗi khi CLB triệu tập, chưa lần nào bà vắng mặt. Tương tự là chị Hoàng Thị Chín, vừa tham gia BCH Hội Phụ nữ xã, vừa là chủ cửa hàng tạp hóa, tuy rất bận rộn nhưng chị cũng chưa bỏ một buổi tập nào.

Các cụ cao niên trong xã cho biết, từ những năm 1950 của thế kỷ trước người dân Đại Thành đã biết hát và yêu thích hát chèo. Đến những năm 1960, bộ môn nghệ thuật này phát triển khắp xã. Có lúc già, trẻ, gái, trai ở đây ai cũng biết hát chèo. Tuy nhiên, trong thời kỳ đổi mới, bộ môn nghệ thuật này ngày càng mai một và có nguy cơ xóa sổ vì số người biết hát chèo ngày càng ít. Lớp thanh niên thì miết mải làm kinh tế. Trước nguy cơ đó, năm 2008, lớp người gạo cội yêu chèo ở Đại Thành đã đề xuất với chính quyền và Phòng Văn hóa huyện Quốc Oai, xin phép thành lập CLB nhằm khôi phục lại bộ môn nghệ thuật truyền thống của địa phương và giao cho ông Sản phụ trách, vận động người dân tham gia. Sau đó một thời gian, CLB Chiếu chèo và Nhạc lễ Đại Thành chính thức ra mắt. Các thành viên CLB đều có chung niềm đam mê hát chèo nên tự nguyện tham gia và ai cũng mong được góp phần lưu giữ những làn điệu chèo truyền thống quê hương".


Lâu lắm rồi tiếng trống chèo, tiếng sáo, tiếng hát mới lại vang lên ở Đại Thành. Những đêm trăng thanh gió mát, tiếng trống chèo từ nhà ông Sản lại vang xa hơn. Hai năm lại đây, Chiếu chèo Đại Thành ngày càng phát triển. Với phương châm "trẻ hóa đội ngũ diễn viên", từ chỗ đa số là diễn viên cao tuổi, đến nay, CLB thu hút được nhiều thành viên trẻ tham gia với giọng ca ngọt, sắc như chị Hoàng Thị Hường, Hoàng Thị Chín, Trần Thị Thúy, Hoàng Thị Trang...


Mới chưa đầy 5 năm kể từ khi CLB ra đời, đến nay không diễn viên nào nhớ nổi số lần biểu diễn và thành tích mà CLB gặt hái được. Họ chỉ biết rằng, mỗi lần biểu diễn đều thu hút được đông đảo người dân đến thưởng thức với niềm háo hức, say mê. Những ngày nông nhàn, không đi biểu diễn, CLB vẫn tổ chức cho nhạc công, diễn viên tập luyện những bài hát, hoạt cảnh chèo cổ và hiện đại theo các chủ đề ca ngợi Đảng, Bác Hồ, ca ngợi quê hương, đất nước. Ngoài các tích cổ như Lưu Bình - Dương Lễ, Quan Âm thị Kính... CLB còn biểu diễn nhiều hoạt cảnh chèo hiện đại được chuyển thể hoặc tự biên tự diễn như vở "Bà mẹ và trang nhật ký", "Tình quân dân"... Tiếng thơm Chiếu chèo Đại Thành ngày càng bay xa, tháng 1-2012 vừa qua, Chủ tịch Hiệp hội UNESCO TP Hà Nội ra quyết định thành lập CLB UNESCO Nghệ thuật hát chèo Quốc Oai, lấy hạt nhân là CLB Chiếu chèo và Nhạc lễ Đại Thành. Đây là sự động viên, khích lệ để diễn viên CLB tiếp tục cống hiến, giữ gìn nghệ thuật hát chèo quê hương
theo: hanoimoi

3 thg 3, 2012

Đào được hũ tiền cổ khi cày ruộng

Đang cày ruộng để trồng lạc, bất ngờ lưỡi cày kêu răng rắc, vợ chồng người nông dân bới đất lên phát hiện hũ sành bên trong đựng gần 20 kg tiền cổ.

Người dân huyện Đô Lương (Nghệ An) đang xôn xao trước việc vợ chồng anh chị Trần Văn Thảo - Hoàng Minh Thu ở xã Bắc Sơn đào được hũ tiền cổ khi đang cày ruộng. Nhiều người đổ đến xem, số khác mang máy dò kim loại đến cánh đồng xã Bắc Sơn để tìm kiếm tiền cổ.
Số lượng tiền cổ do anh Thảo cày ruộng phát hiện ra. Ảnh: Hải Văn
Số lượng tiền cổ do anh Thảo cày ruộng phát hiện ra. Ảnh: Hải Văn
Anh Thảo cho biết, đầu tháng 2, tranh thủ tiết trời ấm áp, vợ chồng anh dắt trâu ra đồng cày ruộng để chuẩn bị gieo lạc vụ xuân. Vừa cày được vài đường thì lưỡi cày kêu răng rắc, hai vợ chồng dùng cuốc để đào và phát hiện chiếc hũ sành bên trong đựng gần 20 kg tiền cổ.
Các đồng tiền hình tròn, có lỗ vuông ở giữa cùng chữ Hán ở 4 phía đối xứng vẫn còn nguyên vẹn và sắc nét. Dựa vào các chữ còn ghi lại trên tiền, các cụ cao niên cho hay đây là tiền cổ có các tên hiệu như: Khai Nguyên thông bảo, Chính Hòa thông bảo, Hoàng Tống thông bảo, Gia Thái thông bảo, Thiên Hỷ thông bảo... Một số người nhận định, tiền có nguồn gốc từ thời Đường, Tống ở Trung Quốc.
Từng có người trả 8 triệu đồng mua số tiền này nhưng vợ chồng anh Thảo chưa bán mà mong muốn các nhà khoa học vào cuộc để thẩm định giá trị của hũ tiền.
Chính quyền xã Bắc Sơn cho biết, cánh đồng nơi anh Thảo tìm được tiền cổ vốn là nơi sinh sống của rất nhiều quan lại, địa chủ phú hào thời xưa.

                                                  Theo: vnexpress.net
   

12 thg 2, 2012

Về lại nhà Bá Kiến ở làng “Vũ Đại”

(Tin tuc) - Người ta biết đến "Bá Kiến" và làng "Vũ Đại" thông qua tác phẩm "Chí Phèo" của cố nhà văn Nam Cao. Nhưng, rất ít ai biết đến những câu chuyện thăng trầm xung quanh ngôi nhà Bá Kiến thực, vốn là nguyên mẫu trong tác phẩm xuất sắc của cố nhà văn này.
"Báu vật" của làng
Men theo tỉnh lộ 972 dọc sông Châu khoảng 40km thì đến làng Đại Hoàng, xã Nhân Hậu, phủ Lý Nhân (nay là xóm 11, xã Hòa Hậu, huyện Lý Nhân, Hà Nam)- một địa danh đi vào văn học một thời. Tại đây, vẫn còn ngôi nhà cổ của "Bá Kiến" nổi tiếng.
Hiện có rất ít tư liệu chính thống nói về xuất xứ của ngôi nhà này, tuy nhiên người dân ở đây vẫn xem ngôi nhà cổ giống như "báu vật" của làng. Cũng bởi một điều, ngôi nhà đã từng chứng kiến bao thăng trầm của những tầng lớp người trong xã hội xưa, nó cũng là chứng tích ghi dấu về một chế độ phong kiến ở Bắc kỳ thời bấy giờ. Tọa lạc trên một khu đất rộng khoảng 900m2, cửa ngoảnh theo hướng Tây-Nam.
Về lại nhà Bá Kiến ở làng “Vũ Đại”, Tin tức trong ngày, ba kien, chi pheo, lang vu dai, nam cao, bao, tin hay, tin hot, tin tuc
Ngôi nhà Bá Kiến còn được lưu giữ tới nay
Theo những tài liệu và căn cứ vào xuất xứ của nó, căn nhà hiện nay đã tồn tại trên 100 năm. Những hoa văn và cấu trúc của căn nhà hiện vẫn còn được lưu giữ khá nguyên vẹn và được thiết kế rất đặc biệt. Nhà được kết cấu theo kiểu lộn thềm ngưỡng chồng, tàu bảy then trâu chồng chóp. Nhà có 3 gian theo truyền thống người Việt Nam với 4 hàng cột và tổng cộng 16 cột chủ yếu bằng gỗ lim. Chân cột được kê đá tảng, là một loại đá xanh được đẽo gọt công phu và giống nhau đến 99%. Mái nhà được lợp duy nhất một loại ngói âm dương theo kiểu bít đốc, hai đầu bờ nóc có đấu vuông giật cấp. Cửa ghép bức bàn, ngoài hiên có một hàng dãi dùng (hay còn gọi là tấm liếp) chống nắng mưa được làm bằng gỗ. Trên các văng, kèo, li tô được chạm khắc các hoa văn, chữ nho, hình rồng... Trên nóc nhà (thượng ốc) có khắc dòng chữ nho nói về thời gian chính xác năm xây dựng ngôi nhà. Tường nhà phía sau được làm bằng vôi trộn với mật mía, bồ hóng, vỏ cây Bời Lời và một số vật liệu khác. Gạch dùng để xây tường và lát nền được nung bằng rơm. Mặc dầu đã nhiều tuổi và trải qua bao thăng trầm của lịch sử, rồi thời tiết nhưng căn nhà hiện vẫn còn nguyên vẹn và được gìn giữ cẩn thận.
Năm 2004, UBND tỉnh Hà Nam đã tổ chức chương trình "Tìm lại Nam Cao" và hoàn thành công trình tưởng niệm nhà văn liệt sỹ Nam Cao. Năm 2007, ngành VHTT&DL tỉnh Hà Nam quyết định lưu giữ ngôi nhà "Bá Kiến" để góp phần cho việc nghiên cứu sự nghiệp của nhà văn Nam Cao. Mới đây, địa phương đã cho xây dựng thêm khu nhà vệ sinh, nhà tắm để phục vụ khách đến tham quan và trồng thêm vườn chuối ngự phía trước nhà tạo nên một khung cảnh mang dáng dấp làng quê Việt Nam xưa.
Căn nhà đặc biệt
Đằng sau tác phẩm "Chí Phèo" của cố nhà văn Nam Cao, ít ai biết đến những gì còn in dấu về làng quê của ông. Ngôi nhà "Bá Kiến" hiện tại chính là nguyên mẫu trong tác phẩm của ông. Ngôi nhà hơn 100 năm tuổi, trải qua nhiều đời chủ và 2 lần "chết hụt", vốn từng thuộc sở hữu của ngụy viên Bắc kỳ Bá Bính. Bá Bính, tên thật là Trần Duy Bính (không rõ năm sinh, mất năm 1946) được cố nhà văn Nam Cao tiết lộ chính là nguyên mẫu nhân vật Bá Kiến trong tác phẩm "Chí Phèo". Đây có lẽ là lý do để cuộc đời nguyên mẫu cũng như ngôi nhà của ông này.
Về lại nhà Bá Kiến ở làng “Vũ Đại”, Tin tức trong ngày, ba kien, chi pheo, lang vu dai, nam cao, bao, tin hay, tin hot, tin tuc
Một số chi tiết trên căn nhà được chạm trổ công phu
Tuy nhiên, gốc gác ngôi nhà vốn là của cụ Cựu Hanh một lái buôn giàu có. Vào những năm 1910, cụ thuê gần 20 thợ nổi tiếng làm nghề mộc ở Cao Đà, phủ Lý Nhân về làm ròng rã mấy tháng trời mới xong. Cụ Hanh để lại cho con là Trần Duy Xầm. Cụ Xầm mất đi để lại cho con cả là Cựu Cát. Cựu Cát là người chơi bời nghiện ngập rượu chè, thường hay vay nợ, sau đó Cựu Cát đã gán ngôi nhà cho cụ Bá Bính. Bởi vậy, tên chủ nhân của ngôi nhà này gắn liền với tên "Bá Kiến" được người dân truyền tụng bấy lâu nay.
Sau khi cụ Bá Bính mất, cụ đã để lại gia sản này cho con trai là Trần Duy Tảo hay còn gọi là Binh Tảo thừa kế. Khi lâm vào nợ nần, Binh Tảo có ý định bán nhà, và chính cụ Trần Thế Lễ bấy giờ đã có ý định mua ngôi nhà về xẻ làm gỗ, nhưng cụ Lễ chưa mua được thì ngôi nhà được cụ Cai Hậu, tên thật là Trần Hữu Hậu- một Việt kiều mua lại để định cư. Được biết, giá ngôi nhà lúc đó cụ Hậu mua là 4.500đồng (tương đương với hàng chục cây vàng thời bấy giờ). Chủ nhân cuối trước khi UBND tỉnh Hà Nam có quyết định lưu giữ ngôi nhà này là ông Trần Hữu Hòa, cháu cụ Cai Hậu.
Đến năm 2007, UBND tỉnh Hà Nam đã thương thảo với bà Trần Thị Sâm (vợ ông Hòa) để mua lại ngôi nhà với giá 700 triệu đồng. Hiện giờ ngôi nhà đang giao cho UBND xã Hòa Hậu phụ trách trông coi đồng thời, đón tiếp các du khách thập phương về đây tìm hiểu và tham quan.
Về lại nhà Bá Kiến ở làng “Vũ Đại”, Tin tức trong ngày, ba kien, chi pheo, lang vu dai, nam cao, bao, tin hay, tin hot, tin tuc
Căn nhà và số phận
Những vị cao niên trong làng mỗi khi nhắc lại về số phận của căn nhà trên đều cho rằng, căn nhà cũng có số phận như con người. Chúng đều vận cho mình sự may rủi nhất định. Cũng bởi gắn với cái duyên nào đó, căn nhà đã hai lần phải "chết hụt" vì những tai nạn và những biến đổi của lịch sử.
Ngôi nhà đặc biệt ấy vốn không do Ngụy viên Bắc Kỳ Bá Bính xây dựng, ông có được căn nhà từ việc gán nợ thế nhưng căn nhà ấy rơi vào chủ nhân khác cũng do nợ nần.
Nói về chuyện ngôi nhà 2 lần suýt "chết hụt" chúng tôi đã may mắn gặp được cụ Trần Bá Huấn (81 tuổi), người cùng làng và biết khá rõ về ngôi nhà này. Cụ Huấn chính là một trong 2 du kích địa phương trực tiếp dập lửa cứu ngôi nhà khi thực dân Pháp phóng hỏa đốt. Cụ Huấn kể lại: "Năm 1953, thực dân Pháp mở trận càn quét nhằm vào các làng xã nơi đây, trong đó có làng Đại Hoàng. Khi ấy tôi mới 19 tuổi, tham gia du kích địa phương và làm nhiệm vụ cắm chông. Hôm đó, lúc giặc đến làng, tôi và đồng chí Huỳnh trú ẩn tại một căn hầm bí mật gần ngôi nhà Bá Bính. Thực dân Pháp càn tới, dùng chất hóa học bôi lên cột nhà sau đó phóng hỏa đốt. Nhưng lúc lửa bắt đầu bén thì bọn chúng có kèn báo hiệu rút quân. Chúng tôi lên khỏi hầm thì thấy cột nhà đã cháy, lửa bắt đầu lan lên mái. Hai anh em vội vã dùng xô, gàu múc nước để dập lửa. Lần ấy, căn nhà đã thoát nạn".
Về lại nhà Bá Kiến ở làng “Vũ Đại”, Tin tức trong ngày, ba kien, chi pheo, lang vu dai, nam cao, bao, tin hay, tin hot, tin tuc
Lần thứ 2, cũng xảy ra khiến ngôi nhà quý giá này thiếu chút nữa không còn tồn tại. Câu chuyện gắn liền với con trai cụ Bá Bính- tức Binh Tảo, vốn là con trai của bà cả. Sau khi bà cả chết, cụ Bá Bính đã lấy vợ hai. Binh Tảo nghiện rượu, những đồ đạc trong nhà ông đều mang đi cầm cố và bán sạch. Căn nhà là tài sản quý giá nhất cũng bị ông đem ra rao bán. Người hỏi mua là ông Trần Thế Lễ, người vốn nổi tiếng là giàu có trong vùng thời bấy giờ. Ông Lễ gạ mua căn nhà với mục đích xẻ lấy 16 cột gỗ được làm bằng lim. Rất may, khi ý định ấy chưa được thực hiện thì một người Việt kiều là cụ Cai Hậu đã hỏi mua với mục đích định cư lâu dài. Cũng lần ấy, số phận căn nhà nhờ thuộc về cụ cai Hậu mà thoát khỏi "án tử".
Trên thực tế, cụ Bá Bính và nhân vật "Bá Kiến" trong truyện và trong phim hoàn toàn khác nhau. Thời bấy giờ, cụ Bá Bính kiêm luôn 3 chức vụ quan trọng. Cụ là ngụy viên Bắc kỳ tương đương với đại biểu quốc hội ngày nay đồng thời kiêm Chánh tổng (phụ trách xã) và chức lý trưởng (phụ trách việc làng). Cũng từ cụ Bá Bính, căn nhà gỗ ấy đã trở thành một "báu vật" không chỉ của riêng làng Đại Hoàng mà còn là một tài sản quý giá của người dân Việt Nam.
Xem thêm chủ đề: ba kien, chi pheo, lang vu dai, nam caobaotin haytin hottin tuc
Theo Hải Quyết (Pháp luật & Xã hội)






30 thg 1, 2012

Mai vàng Ngũ phúc có 150 cánh

Gia đình ông Nguyễn Tiến Tài, ở ấp Sân Bay, xã Tân Phong, huyện Tân Biên (Tây Ninh) đã trồng thành công cây mai quý có hàng ngàn bông nở tới 150 cánh. Theo ông Tài, vào năm 1985, khi phong trào trồng mai kiểng bắt đầu “nở rộ” tại Tây Ninh, ông đã sưu tầm được giống mai đặc biệt, bông có rất nhiều cánh, ghép vào gốc mai rừng.
Sau gần 30 năm trồng và chăm sóc, cây mai phát triển tốt và tạo thành 5 nhánh (như 5 ngón tay) nên gia đình ông Tài đặt tên là Mai Ngũ Phúc.
Cây Mai Ngũ Phúc có đặc điểm ra bông nhiều, có những bông đạt tới 150 cánh, bông mai vàng, không có nhị, không ra trái và độ bền của bông kéo dài từ 14 đến 15 ngày mới rụng hết cánh. Những ngày xuân Nhâm Thìn, nhiều người dân hiếu kỳ ở khắp nơi kéo đến muốn được tận mắt xem cây mai lạ, quý hiếm.

19 thg 1, 2012

Nông dân nơi nào... lãng mạn nhất Việt Nam?

Tôi sẵn sàng cãi nhau với bất cứ ai, nếu người đó không chịu công nhận rằng nông dân Mù Căng Chải lãng mạn nhất thế gian!", ông trưởng phòng VH-TT huyện Mù Căng Chải (Yên bái) hùng hồn tuyên bố khi dẫn khách đi ngắm ruộng bậc thang La Pán Tấn.  
Mùa gặt đã qua. Không còn những dòng thác lúa chảy vàng qua sườn núi, mất cơ hội để chiêm ngưỡng vẻ đẹp kỳ vĩ của ruộng bậc thang Mù Căng Chải. Nhưng khi mùa gặt qua, những thửa ruộng mới bộc lộ hết những đường nét gợi cảm của chúng, và một vẻ đẹp khác hiện lên…

Ruộng nằm ngửa mà nùi thì nằm nghiêng

Đó là vẻ đẹp của tâm hồn người Mông, chủ nhân những thửa ruộng bậc thang. Người dẫn đường, ông trưởng phòng văn hóa cực đoan, đã nói đúng. Không ai lãng mạn bằng những nông dân Mù Căng Chải bởi khát vọng mang cây lúa nước lên lưng chừng trời mà cấy. Mà đúng là lên trời thực sự. Để vào đến đất Mù Căng Chải, để chạm tay vào những gốc rạ của người Mông, tôi đã phải đi qua một biển mây ở cổng trời (đèo Khau Phạ có nghĩa là đèo cổng trời). Phía đông Khau Phạ là Tú Lệ, cũng là một vùng đất nổi tiếng với gạo nếp được trồng trong thung lũng.

Nhưng qua sườn tây đèo Khau Phạ, hình ảnh ruộng lúa đã hoàn toàn khác bởi không còn những cánh đồng bằng phẳng, mà ở đây cây lúa cõng nhau, lên cao, cao mãi. Toàn huyện Mù Căng Chải có tới 700ha lúa nước (ruộng bậc thang). Con số này đáng để ngạc nhiên khi mà mọi điều kiện tự nhiên ở đây đều cho thấy sự bất lợi để canh tác lúa nước.

Mù Căng Chải nằm trong hệ thống núi Hoàng Liên Sơn, địa tầng được cấu tạo bằng đá magma. Các nhà địa chất cho rằng, những vận động địa tầng 150 triệu năm trước đã tạo ra những uốn nếp khổng lồ. Kèm theo đó là hàng loạt những đứt gãy với các khối đá hung hãn chọc xiên qua nhiều nơi như Phu Ba (2.512m) và Púng Luông (2.985m)... Ở Việt Nam, không nơi nào cảm nhận thấy sức mạnh ghê gớm của tự nhiên như ở đây.

Bản thân sự tồn tại của con người đã là một sự phi thường. Và để tồn tại, họ làm một việc còn phi thường hơn, đó là trồng lúa nước. Đặc điểm chính của canh tác lúa nước là phải có mặt phẳng, mà núi lại nằm nghiêng. Núi nghiêng thì đè ngửa núi ra mà cấy chứ sao!Anh cán bộ kiểm lâm Mù Căng Chải cười khà khà.

Không ai biết chính xác người Mông bắt đầu “đè ngửa núi ra” từ khi nào, chỉ biết người Mông được xác định có mặt tại Mù Căng Chải khoảng hơn 200 năm nay. Bao nhiêu thế hệ người Mông đã bám trụ trên vùng đất mù sương này cứ tiếp nối nhau biến núi thành ruộng.




Ở bản Hán Sông, xã La Pán Tẩn, có ông lão Lý Khủa Sang. Diện tích ruộng nhà mình có bao nhiêu, ông không biết, chỉ biết ông bà, cha mẹ để lại cho “mấy chố”, mình làm thêm “mấy chố”… mỗi vụ gặt được mấy tấn gạo, ăn cả năm không hết… Nhìn những thửa ruộng bậc thang xoáy ốc biến những trái núi thành một mâm xôi tròn trịa, bất cứ ai cũng phải ngạc nhiên về việc làm thế nào để đưa nước lên trên đỉnh mâm xôi. Đó là một kỳ tích! Họ dùng một hệ thống máng bắc trên cao, đưa nước từ nguồn, là đỉnh núi, nơi khởi thủy của những con suối, về đỉnh mâm xôi. Từ đỉnh đó, nước tràn xuống những luống ruộng thấp theo hình xoáy ốc.

Đưa nước về là một kỳ công, giữ nước trên ruộng bậc thang cũng kỳ công không kém. Trên địa hình núi dốc như vậy, nhưng luống ruộng nào cũng phẳng đến kinh ngạc, để đảm bảo cây lúa nào cũng đủ nước như nhau. Người Mông làm ruộng bằng cảm giác, họ chăng dây từ đầu luống đến cuối luống, cảm thấy dây thẳng là ruộng phẳng. Để làm ra một luống ruộng, một gia đình 5 người như nhà ông Lý Khủa Sang chỉ mất có 3 ngày. Thế mà, luống nào luống nấy phẳng đét.

Đợi hoa tớ dây

Ở Mù Căng Chải, tôi được nghe một bài hát tiếng Mông, âm thanh líu lo, líu lô rất gợi cảm. Người hát dịch nghĩa rằng: "Chín mươi chín bông hoa tớ dảy/ Có một bông hoa nở/ Để đồng bào làm vụ mùa sớm hẳn/ Đẹp cả lá gan…".

Người Mông Mù Căng Chải một năm chỉ làm một vụ lúa. Mà vụ mùa duy nhất ấy, cái ăn của cả một năm trời lại được bắt đầu từ một nụ hoa. Khi tôi nghe bài hát này, trời đang giữa đông, hoa tớ dảy (hoa đào - tiếng Mông) chưa nở, có nghĩa vụ mùa chưa bắt đầu. Mùa này là mùa rảnh rỗi nhất trong năm. Đàn ông đi chơi, đi rừng, còn đàn bà ở nhà thêu áo, thêu khăn, làm bánh giày đợi Tết. Tết bắt đầu từ đầu tháng 12, cuối tháng hoa đào nở, Tết càng vui dù đã bắt đầu vào vụ mới. Cái sự đợi hoa của người Mông, nhiều người cho rằng họ ham chơi, hoặc lãng phí thời gian.

Nhưng không phải thế. Người có đời người, núi có…đời núi. Lúc con người nghỉ ngơi cũng là khi núi nghỉ. Cái sự nghỉ ngơi ấy giúp cho những thửa ruộng bậc thang hồi phục, hấp thu nguồn sinh lực của đất trời cho vụ mùa tốt tươi. Nếu không có quãng thời gian nghỉ ngơi ấy, liệu những thửa ruộng bậc thang không phân hóa học có tiếp tục nuôi sống con người đời này qua đời khác?

Năm trước, ruộng bậc thang Mù Căng Chải trở thành di tích văn hóa cấp quốc gia. Có người so sánh với di sản thế giới ruộng bậc thang ở Philippines, tiếc rằng ở đây người ta không làm du lịch không, biến những thửa ruộng thành sản phẩm không có vụ, lúc nào cũng có thể gặp lúa chín để chụp ảnh. Nhưng nỗi tiếc nuối ấy không hiện hữu trong ánh mắt của người dân nơi đây. Ruộng bậc thang không phải để ngắm. Nó là mồ hôi, là trái tim, là khối óc và cũng là truyền thống văn hóa của người Mông Mù Căng Chải.

Vào nhà ông Sùng Khua Lồng, bản Tà Chơ, xã Kim Nọi, hỏi có biết chuyện đó không? Ông Lồng cười: "Không biết đâu. Sẽ có nhiều người du lịch lắm! Sẽ dễ kiếm tiền". Rồi ông Lồng lại cười: "Thế thì vui. Nhưng mà mình đủ ăn rồi".

Thoạt nghe, thoáng nghĩ rằng người đàn ông này không có nhiều khát vọng. Nhưng, nếu đo chỉ số hài lòng với cuộc sống, chắc chắn rằng họ sẽ là một cộng đồng có mức độ hài lòng cao nhất. Khát vọng khác rất nhiều sự tham lam. Hài lòng với cuộc sống còn thiếu thốn của mình không có nghĩa họ không mang một khát vọng lớn. Họ khát khao chinh phục thiên nhiên, nhưng họ không tham lam bắt thiên nhiên kiệt sức vì cuộc sống của mình. Từ nhà ông Lồng nhìn ra phía trước có một ngọn đồi cao được gieo mạ sớm.

Chiều buông, những cây lúa mùa sau thầm lặng mọc lên trời. Đó là một vẻ đẹp kỳ lạ nhất mà tôi từng thấy. Những lá lúa như mũi tên xanh biếc lao thẳng vào trời sương. Tôi tin rằng tâm hồn của người Mông Mù Căng Chải cũng như vậy, luôn ẩn chứa những khát khao chinh phục thiên nhiên, khát khao ấy cũng mạnh mẽ như một mũi tên, nhưng cũng mềm mại như một nhành mạ non trong sương núi sớm xuân.
Theo: Đất việt

17 thg 1, 2012

Anh nông dân bỏ tiền tỷ để xây dựng chợ nông thôn


Bỏ ra số tiền hơn 9,5 tỷ đồng để xây dựng khu chợ nông thôn khang trang chỉ với một suy nghĩ rất giản đơn “Nếu ai cũng ngồi không thì làm sao đất nước mình, quê hương mình giàu đẹp được!” - đó là câu trả lời của anh Nguyễn Tuấn, thôn 1, xã Ia Krãi, huyện Ia Grai (Gia Lai).

Anh Tuấn chỉ có mong ước đơn giản là bà con có một chỗ buôn bán, giao thương sạch sẽ, thuận tiện và an toàn. Khu chợ có tên “Chợ nông thôn Ia Krãi” nằm sát tỉnh lộ 64 của trung tâm xã Ia Krăi, huyện biên giới Ia Grai.

Nguyễn Tuấn, sinh năm 1974, quê xã Triệu Lăng, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Anh sinh ra và lớn lên trong một gia đình nghèo có đến 9 người con. Cơ duyên đưa anh đến và gắn bó với mảnh đất Gia Lai bắt đầu từ năm 1993, khi anh nhập ngũ vào Lữ đoàn Pháo binh 40 - Quân đoàn 3.

Sau hai năm quân ngũ, thấy đời sống ở vùng đất này dễ chịu hơn ở quê nhà nên anh đã đưa cả gia đình chuyển hẳn vào đây lập nghiệp. Cuộc sống của anh nơi vùng đất mới gặp rất nhiều khó khăn, không chút vốn liếng, không một miếng đất cắm dùi. Anh bắt đầu xây dựng cuộc sống từ những việc nhỏ nhặt nhất như sửa xe đạp, sửa xe máy, bán hàng tạp hoá, làm thuê, trồng càphê... khi có thêm chút vốn liếng anh mở cửa hàng bán xe máy nhỏ.

Cửa hàng xe máy anh mở nằm gần khu chợ tự phát, ngày ngày chứng kiến cảnh người dân họp chợ ngay bên vệ đường, gây cản trở giao thông, rất dễ xẩy ra tai nạn, gây ảnh hưởng lớn đến tình hình an ninh, trật tự trên địa bàn. Thế là ý tưởng xây dựng một khu chợ cho bà con có chỗ buôn bán được an toàn hình thành trong đầu anh. Nghĩ là làm, anh đã đề xuất với huyện về dự án xây chợ vùng biên và nhanh chóng nhận được sự đồng tình, ủng hộ. Anh đã bàn với vợ dùng số tiền tích góp được lâu nay cộng với vay mượn của bạn bè để đầu tư xây dựng khu chợ này.

Toàn bộ số tiền tích góp được thay vì gửi ngân hàng lấy lãi theo cách nghĩ thông thường của nhiều người, anh vay mượn thêm bạn bè và thế chấp một số tài sản khác để vay ngân hàng lấy tiền đầu tư xây chợ. Có tiền cùng với nguyện vọng đã ấp ủ từ trước, anh thuê lại của xã diện tích hơn 1 ha đất trồng cây cà phê đã già cỗi của Nông trường cà phê 705 mà tỉnh đã thu hồi lại và tiến hành đầu tư xây dựng. Hiện nay, anh đã đầu tư hơn 5,5 tỷ đồng (giai đoạn 1 của dự án) vào khu chợ này và đã hoàn thành đưa vào sử dụng với quy mô 1 gian trưng bày sản phẩm, 1 nhà lồng bán hàng tươi sống và 21 ki-ốt tọa lạc trên diện tích đến gần 10.000m2.

“Ban đầu mình chỉ dự kiến kinh phí cho dự án vào khoảng 6,8 tỷ đồng, nhưng với tốc độ trượt giá như hiện nay, nên kinh phí có thể “đội” lên đến hơn 9,5 tỷ đồng. Dù gặp phải nhiều khó khăn về vốn nhưng mình đã làm rồi thì phải làm cho đàng hoàng, đến nơi đến chốn” - Anh quyết tâm nói.

Khu chợ được xây dựng hoàn thành và đưa vào sử dụng đã mang lại một bộ mặt mới cho vùng biên giới Ia Krãi, là nơi mua bán an toàn, sạch sẽ cho người dân. Bên cạnh đó, những người khi đăng ký vào chợ sẽ được hưởng nhiều ưu đãi như không phải dọn rửa, không đóng bất cứ khoản tiền nào kể cả phí và lệ phí chợ, được trông giữ hàng hóa và trông giữ xe miễn phí…, đặc biệt là những người thuê ki-ốt nằm ở mặt đường chỉ phải trả tiền thuê với mức từ 7-15 triệu đồng/năm. Thế nhưng, dù đã hoàn thành và đưa vào sử dụng nhưng đến nay vẫn thưa thớt các hộ kinh doanh vì khu chợ cũ vẫn chưa được dẹp bỏ.

“Khu chợ cũ nằm sát đường giao thông vẫn chưa được dẹp bỏ nên bà con vẫn buôn bán ở đó. Bên cạnh đó, nhiều hộ buôn bán dọc đường vẫn chưa đồng tình ủng hộ việc vào chợ với lý do đã quen chỗ, sợ vào chợ sẽ không bán được hàng nên hiện mới chỉ có khoảng hơn 10 hộ đồng ý vào buôn bán trong chợ. Hy vọng sắp tới, chính quyền địa phương sẽ có biện pháp vận động bà con vào chợ buôn bán cho an toàn”- anh cho biết.

Trao đổi với chúng tôi về vấn đề này, ông Kso Loan, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân xã Ia Krãi cho biết sau khi biết được nguyện vọng đầu tư xây chợ của anh Tuấn, chính quyền địa phương đã hưởng ứng nhiệt tình, tạo mọi điều kiện để anh Tuấn đầu tư xây dựng. Việc đầu tư xây dựng khu chợ là việc làm rất thiết thực, đóng góp rất lớn vào tiến trình xây dựng Nông thôn mới. Vì vậy, chính quyền sẽ làm mọi cách để bà con vào chợ vì khu chợ mới xây rất khang trang, sạch đẹp lại đảm bảo được vấn đề an toàn, an ninh trật tự trên địa bàn. Về việc khu chợ cũ vẫn hoạt động gây ảnh hưởng đến tình hình trật tự thì chúng tôi cùng với lực lượng công an xã, xã đội tổ chức các đợt kiểm tra, dẹp bỏ khu chợ cũ và vận động bà con nhân dân vào khu chợ mới xây dựng để buôn bán”./.  
(TTXVN/Vietnam+)

13 thg 1, 2012

Gần 800.000 LĐ nông thôn được học nghề

Sau 2 năm thực hiện Đề án đào tạo nghề cho LĐ nông thôn (LĐNT) theo Quyết định 1956 của Thủ tướng Chính phủ, đã có gần 800.000 LĐNT được học nghề, trong đó gần 70% có việc làm sau học nghề. Năm nay, đề án đặt mục tiêu tiếp tục đào tạo nghề cho 600.000 LĐNT.

70% số LĐNT có việc sau học nghề
Tại Hội nghị toàn quốc sơ kết 2 năm thực hiện Đề án đào tạo nghề cho LĐNT, triển khai kế hoạch thực hiện năm 2012 tổ chức sáng 11.1, Ban Chỉ đạo T.Ư thực hiện đề án cho biết, trong 2 năm 2010 - 2011, cả nước đã tổ chức dạy nghề cho 798.240 người, trong đó 46% học các nghề nông nghiệp và 54% học các nghề phi nông nghiệp.
Nhiều LĐNT sau học nghề đã áp dụng kiến thức vào sản xuất, làm tăng năng suất, ổn định đời sống.
Nhiều LĐNT sau học nghề đã áp dụng kiến thức vào sản xuất, làm tăng năng suất, ổn định đời sống.
Số lượng LĐNT học nghề phi nông nghiệp có xu hướng tăng dần từ 51% năm 2010 lên 56% năm 2011.
Như vậy, số lượng LĐNT được đào tạo nghề trong 2 năm đầu thực hiện đề án thấp hơn so với chỉ tiêu đề ra là 900.000 LĐNT. Tỉ lệ gắn với việc làm và có việc làm mới sau học nghề cũng thấp hơn mức chỉ tiêu 70%. Tính đến nay, mới có 54/63 tỉnh, thành báo cáo tỉ lệ việc làm sau đào tạo nghề đạt trên 70%, còn 9 tỉnh, thành, trong đó không chỉ có những địa phương như Lào Cai, Yên Bái... mà có cả TPHCM, TT-Huế... tỉ lệ việc làm đạt dưới 70%.
Các đại biểu tại hội nghị cũng chỉ rõ công tác dạy nghề cho LĐNT 2 năm vừa qua mới chỉ chủ yếu tập trung vào các mô hình thí điểm, việc đào tạo mở rộng ở các địa phương vẫn còn có hạn chế, yếu kém. Đặc biệt còn tình trạng nghề đào tạo chưa phù hợp với nhu cầu, điều kiện của người học, chưa gắn chặt với kế hoạch phát triển KTXH của địa phương và nhu cầu sử dụng LĐ của DN.
2012: Đào tạo nghề cho 600.000 LĐNT
Nhiều ý kiến tại hội nghị cũng thống nhất, việc đào tạo nghề cho LĐNT sẽ đúng hướng và hiệu quả nếu địa phương quan tâm, quán triệt đúng tinh thần đề án.
Tuy nhiên, còn một số địa phương chưa nắm được tinh thần, nhiều công tác như khảo sát nhu cầu, tư vấn học nghề, chọn nghề và tổ chức dạy học chưa xuất phát từ nhu cầu và điều kiện của người học, chưa gắn kết giữa đào tạo và sử dụng, không dựa trên thực tế của địa phương mà chỉ tập trung lo đạt chỉ tiêu về số lượng. Nhiều địa phương chưa tích cực hỗ trợ và tạo điều kiện cho người học sau khi học nghề.
Nhiều xã chưa có quy hoạch sử dụng đất đai, sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ. Bên cạnh đó, một số chính sách của đề án không còn phù hợp với thực tiễn triển khai và mặt bằng giá cả hiện nay.
Năm 2012, mục tiêu của đề án là hỗ trợ dạy nghề cho khoảng 600.000 LĐNT, ít nhất 70% có việc làm sau đào tạo. Để đạt mục tiêu này, Ban chỉ đạo T.Ư đã đề ra nhiều giải pháp, Bộ LĐTBXH cần rà soát, trình Thủ tướng Chính phủ sửa đổi, bổ sung những chính sách, giải pháp, hoạt động, cơ chế tổ chức thực hiện và cơ cấu kinh phí của đề án cho phù hợp với tình hình thực tiễn.
Các địa phương phải xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch dạy nghề cho LĐNT năm 2012 với các chỉ tiêu cụ thể về số lượng, chất lượng, cơ cấu LĐ gắn với quy hoạch, kế hoạch phát triển KTXH của địa phương, huy động sự tham gia tích cực của các tổ chức chính trị - xã hội, đoàn thể và DN ở địa phương và các nguồn lực cho dạy nghề và tạo việc làm cho LĐNT.
Báo lao động

17 thg 12, 2011

Nhà nông trẻ giúp thanh niên làm giàu

(Chinhphu.vn) - Anh Trần Văn Bộ, Chủ nhiệm Hợp tác xã chăn nuôi ở xã An Dương (huyện Tân Yên, Bắc Giang) đã mạnh dạn phát triển kinh tế trang trại và thành lập hợp tác xã chăn nuôi có tổng doanh thu hàng chục tỷ đồng mỗi năm. Anh còn tận tình giúp đỡ nhiều thanh niên vươn lên làm giàu.

Khỏi nghiệp từ hai bàn tay trắng
Từ khi tham gia hợp tác xã chăn nuôi, anh Đoàn Văn Tuấn có thu nhập hàng tỷ đồng mỗi năm - Ảnh Chinhphu.vn
Cuộc trò chuyện giữa tôi và anh thường xuyên bị ngắt quãng bởi những cuộc điện thoại của khách hàng gọi đến.
Ông chủ 33 tuổi chia sẻ, năm 1998, sau khi tốt nghiệp Đại học Nông nghiệp Hà Nội, anh không đi xin việc ở thành phố mà quyết định về quê lập nghiệp. Đúng lúc đó, xã có chủ trương dồn điền đổi thửa, anh mạnh dạn chuyển đổi diện tích đất nông nghiệp cho hiệu quả kinh tế thấp sang làm kinh tế trang trại.
Anh khởi nghiệp từ hai bàn tay trắng. Anh xoay xở khắp nơi, đi vay vốn bạn bè và người thân để có tiền xây dựng chuồng trại chăn nuôi gà.
 “Thời điểm bấy giờ, tôi là người đầu tiên trong xã nuôi gà với quy mô lớn. Vốn ít, kinh nghiệm lại không có, nhiều lúc tôi cũng thấy lo. Nhưng vì muốn phát triển kinh tế gia đình và giúp bà con có thêm hướng làm giàu mới nên tôi quyết tâm làm bằng được”, anh Bộ nói.
Lứa gà đầu tiên xuất chuồng, trừ mọi chi phí, anh bắt đầu có lãi. Anh đẩy mạnh đầu tư, mở rộng quy mô trang trại, tăng số lượng đàn gà nuôi lên hàng nghìn con và kết hợp nuôi lợn.
Thế nhưng nghiệp làm trang trại cũng chẳng dễ dàng gì. Năm 2000, đàn gà của anh bị nhiễm dịch bệnh chết hàng loạt, toàn bộ số vốn đầu tư bị mất trắng, thua lỗ gần 50 triệu đồng.
Không nản lòng, anh thế chấp sổ đỏ, vay vốn ngân hàng để tiếp tục phát triển kinh tế trang trại. Việc phòng trừ dịch bệnh được anh tiến hành cẩn thận và bài bản. Doanh thu trang trại của anh năm sau luôn cao hơn năm trước.
Chưa dừng lại ở đó, nhận thấy việc sản xuất ở địa phương còn manh mún, hiệu quả kinh tế không cao, anh  đã nảy ra sáng kiến quy tụ những hộ chăn nuôi nhỏ lẻ thành lập Hợp tác xã chăn nuôi với tổng số vốn  ban đầu là 150 triệu đồng. Đó là thời điểm năm 2003.
Có thêm vốn, anh cùng với các hội viên đầu tư phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm và thủy sản. Mới đầu chỉ có 7 gia đình tham gia. Một thời gian ngắn sau đó, số hội viên tăng lên 12 người.
Sau khi tham gia hợp tác xã, tất cả các thành viên đều làm ăn có lãi. Chỉ tính riêng năm 2010, tổng doanh thu của hợp tác xã là gần 20 tỷ đồng.
Giúp thanh niên làm giàu
Anh Trần Văn Bộ - Ảnh Chinhphu.vn
Anh Trần Văn Bộ cho biết thêm, thấy kinh tế trang trại mang lại giá trị cao, nhiều thanh niên ở trong và ngoài xã cũng học theo.
Nhưng phần lớn các trang trại này có quy mô nhỏ lẻ, cách tổ chức sản xuất không bài bản, khoa học nên không phát huy được ưu thế của loại hình kinh tế trang trại.
Thấy vậy, anh không chỉ tận tình hướng dẫn kỹ thuật, tư vấn cách xây dựng chuồng trại mà còn vận động mọi người tham gia hợp tác xã cùng nhau làm giàu. Các hội viên trong hợp tác xã chủ yếu ở độ tuổi thanh niên.
Không ít các bạn trẻ đã trở thành triệu phú, tỷ phú từ khi gia nhập hợp tác xã của anh.
Anh Đào Văn Tuấn, 36 tuổi ở xã An Dương là một trường hợp như vậy.
Trước khi trở thành hội viên của hợp tác xã, kinh tế gia đình anh chỉ trông chờ vào mấy sào ruộng và nuôi vài con lợn nên gặp không ít khó khăn.
Năm 2007, anh tham gia hợp tác xã. Có thêm vốn, lại được hỗ trợ về thức ăn chăn nuôi nên anh đã mạnh dạn chuyển từ chăn nuôi hộ gia đình sang làm trai trại với quy mô lớn.
Anh tiến hành dồn điền đổi thửa, đào ao thả cá bên dưới và xây dựng chuồng trại nuôi lợn bên trên theo quy trình công nghiệp.
Mỗi năm gia đình anh xuất chuồng hàng chục tấn lợn. Riêng năm 2010, anh bán ra thị trường hơn 27 tấn lợn, thu về hơn 1,2 tỷ đồng, chưa kể tiền bán cá.
Trong số các hội viên của hợp tác xã, gia đình chăn nuôi ít có thu nhập gần 100 triệu đồng mỗi năm, gia đình làm nhiều lên đến hàng tỷ đồng.
Với những thành tích nổi bật trên, anh Trần Văn Bộ đã được trao giải thưởng Lương Đình Của - phần thưởng cao quý của Ban chấp hành Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh dành trao tặng hàng năm cho thanh niên nông thôn có thành tích đặc biệt xuất sắc trong sản xuất, kinh doanh, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ, phát triển ngành nghề, bảo vệ môi trường và xây dựng nông thôn mới...

15 thg 12, 2011

Lao động nông nghiệp: Số lượng lớn chất lượng thấp

(Dân trí) - Trong 10 năm qua, đã có 15 triệu lao động có việc làm, trong đó, khoảng 50% làm trong lĩnh vực nông nghiệp. Tuy nhiên, nhóm đối tượng này có việc nhưng lại không năng suất (năng suất trong ngành nông nghiệp chỉ bằng 1/4 ngành công nghiệp và bằng 1/3 ngành dịch vụ).
Theo kết quả khảo sát của Văn phòng Hỗ trợ Tư vấn Phản biện và Giám định Xã hội (thuộc Liên các Hội KHKT Việt Nam), trong 10 năm qua (2001- 2010), đã có 15 triệu lao động có việc làm, trong đó, khoảng 50% làm trong lĩnh vực nông nghiệp. Tuy nhiên, nhóm đối tượng này có việc nhưng lại không năng suất (năng suất trong ngành nông nghiệp chỉ bằng 1/4 ngành công nghiệp và bằng 1/3 ngành dịch vụ).

Lao động nông thôn nằm ở nhóm thu nhập thấp. (Ảnh minh họa) 
 
Cũng theo báo cáo này, trong 10 năm qua, có khoảng 65% doanh nghiệp là các doanh nghiệp nhỏ hoặc siêu nhỏ có năng suất thấp, sức cạnh tranh yếu, hoạt động thiếu hiệu quả và sản xuất các sản phẩm thiếu giá trị gia tăng.
 
Kết quả khảo sát cũng cho thấy, phần lớn lao động Việt Nam dễ gặp phải rủi ro khi không được bảo vệ bởi hệ thống bảo trợ xã hội vì họ làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp hoặc khu vực phi chính thức. Trong khi nhận thức cũng như việc tuân thủ quy định đóng bảo hiểm xã hội của các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp tư nhân trong nước còn kém. Ngoài ra, việc chấp hành và thực hiện Bộ Luật lao động kém trong khi Bộ luật áp dụng không đồng đều với các loại hình doanh nghiệp khác nhau cũng là cản trở khiến cho người lao động luôn trở thành kẻ “thấp cổ bé họng” phải chịu thiệt thòi về quyền lợi.
 
Tuy nhiên, trong khoảng thời gian đó, trên một nửa số doanh nghiệp có quy mô lao động nhỏ, ít hơn 10 lao động và chưa đầy 2% doanh nghiệp tuyển dụng hơn 200 lao động, chủ yếu tập trung ở vùng Đông Nam. Doanh nghiệp ở các ngành có khả năng có giá trị sản xuất cao như sản xuất công nghiệp và thương mại sử dụng ít lao động trong khi đó ngành nông nghiệp lại tạo ra 48,7% việc làm và chỉ đóng góp 22,1% GDP.
 
Tiếp đến là tình trạng mất cân đối cung cầu lao động cục bộ xảy ra ở nhiều khu vực, lĩnh vực và ngành kinh tế khác nhau. Dư thừa lao động phổ thông và thiếu lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật khá phổ biến, nhiều doanh nghiệp ngày càng gặp khó khăn trong tuyển dụng, đặc biệt là tại các khu công nghiệp và chế xuất phía Nam.
 
TS Papola, Văn phòng Hỗ trợ Tư vấn Phản biện và Giám định Xã hội nhận xét rằng, tuy việc làm đã tăng, số người có việc làm được ước tính tăng từ khoảng 35,6 triệu người năm 1997 lên 48 triệu người năm 2009, nhưng điều đó cũng không làm giảm thất nghiệp.Số người thất nghiệp đã tăng từ 1,05 triệu người năm 1997 lên 1,29 triệu người năm 2009. Tỷ lệ thất nghiệp đã giảm từ 2,9 năm 1997 xuống 2,3 năm 2000, nhưng đến năm 2009 lại tăng lên 2,6. Số người thất nghiệp và tỷ lệ thất nghiệp tăng lên đáng kể trong năm 2008 và 2009 là do tác động kinh tế của khủng hoảng tài chính toàn cầu.
 
Cũng theo TS Papola, Đề án 1956 đặt mục tiêu đào tạo mỗi năm 1 triệu lao động nông thôn trong đó số lao động nông thôn được đào tạo nghề nông nghiệp chiếm khoảng 1/3 nhưng do năng suất lao động trong nông nghiệp thấp nên nông nghiệp đang ngày càng không thu hút được những lao động trẻ. Xu hướng già hóa nông nghiệp chính là một trong những cản trở quan trọng cho việc đạt các mục tiêu này.
 
Cũng trong lần khảo sát này, nhóm chuyên gia của TS Papola nhận thấy, ngoài số người thất nghiệp thì chất lượng việc làm là một trong những thách thức lớn về việc làm mà Việt Nam phải đối mặt. Đại đa số việc làm nằm trong khu vực phi chính thức hoặc loại hình phi chính thức, việc làm không thường xuyên và không có bảo trợ xã hội. Khoảng 3/4 trong tổng số việc làm được đánh giá là “dễ bị tổn thương”, như việc làm gia đình không được trả lương hoặc tự làm; thu nhập không ổn định và dao động.
 
Dự báo, 10 năm sau, lao động trong ngành nông nghiệp sẽ giảm xuống cả về tỷ trọng và số lượng, trong khi đó số lao động trong ngành thương mại và dịch vụ sẽ tăng lên cả về tỷ trọng và số lượng.

14 thg 12, 2011

Xót xa phận người

Ngày ngày các cô gái ở vùng cao Xín Cái vẫn sang Trung Quốc làm thuê
Nongnghiep.vn: Cao nguyên đá Hà Giang những ngày 0 độ C lạnh buốt đến xương tủy. Nhưng đi sâu tìm hiểu, chúng tôi thấy một "cái lạnh" khác còn tê tái hơn, đó là số phận của nhiều người dân nơi đây.
Bố phấn khởi khi có người mua con
Không còn ở thời điểm rầm rộ, ngang nhiên như vài năm trước, nhưng thực trạng lừa bán, bắt cóc phụ nữ ở những xã vùng cao nguyên đá vẫn còn rất nhức nhối. Trong khi các cơ quan chức năng xem chống buôn người là một cuộc chiến nóng bỏng, là vấn đề then chốt trong nghị quyết của các xã vùng biên thì người dân ở nhiều nơi vẫn xem phụ nữ chẳng qua cũng chỉ như một món hàng.
Chỉ trong vòng một năm, đồn biên phòng Săm Pun ở xã Xín Cái (huyện Mèo Vạc) tiếp nhận trao trả hàng chục trường hợp phụ nữ bị lừa bán sang Trung Quốc. Nạn nhân có nhiều loại, nhưng chủ yếu vẫn là những cô gái người Mông sống ở các xã vùng cao trên cao nguyên đá. Săm Pun phiên âm theo tiếng Pháp có nghĩa là vùng đất nhiều sấm sét. Nhưng Săm Pun bây giờ là chốn trở về của những phận người bị biến thành hàng hóa.
Thượng tá Hoàng Minh Đông, Phó đồn trưởng Đồn Biên phòng Săm Pun không thể nhớ mình đã tiếp nhận bao nhiêu trường hợp bị lừa bán rồi họ may mắn được trở về nhưng nguyên nhân thì ông nắm rõ. “Cuộc sống bà con nghèo quá. Nghèo nên họ phải đi làm thuê bên Trung Quốc, nghèo nên họ sẵn sàng bán cả người thân của mình có khi với giá chẳng ai tưởng tượng nổi”.
Những câu chuyện, những số phận, những bi kịch khiến khuôn mặt vị cán bộ đồn biên phòng này sạm đi rất nhiều so với tuổi. Cứ sau mỗi chuyên án ông lại ghi tên nạn nhân vào nhật ký của mình. Cuốn nhật ký ấy đã dày, dày lắm, vậy mà nó chỉ đủ để ghi lại một phần rất nhỏ so với vô vàn số phận phụ nữ bị biến thành hàng hóa trên cao nguyên đá.
Hôm tôi chúng tôi đến đồn Săm Pun, một cô gái may mắn được phía Trung Quốc giải cứu và đẩy qua biên giới tự tìm đường về. Đây trường hợp thứ 11 bị đẩy qua biên giới phải tự tìm đường về trong năm nay.
Nạn nhân là Vừ Thị Dính, quê ở xã Niêm Tòng chỉ mới 14 tuổi. Độ tuổi mà những cô gái Mông dù đã biết yêu, dù đã sẵn sàng làm vợ, sinh con rồi nhưng vẫn còn hồn nhiên lắm. Hồn nhiên đến mức kể về thảm kịch của mình mà thỉnh thoảng cô vẫn cười đùa như vừa đi du lịch về vậy. Dính không nói được tiếng Kinh nhưng khi có người phiên dịch hỏi han thì cô chẳng giấu giếm hay e ngại điều gì.
Nhà Dính nghèo lắm. Cái nghèo chung của người Mông sống trên cao nguyên đá Niêm Tòng. Cái nghèo khiến ông bố Dính tỏ ra phấn khởi khi biết được tin có người mua con gái mình, dù chẳng biết họ mua để đem đi đâu, làm gì. Cái nghèo đẩy Dính đi tìm hi vọng về một cuộc sống ở cái nơi mà sau này cô mới biết là địa ngục.
Chuyện Dính bị lừa bán cũng dễ dàng như bắp ngô, mớ rau mà người Mông ở Niêm Tòng vẫn thường trao đổi với nhau trong những lần có chợ phiên ở huyện vậy. Tháng 4 vừa rồi Dính cùng bà dì cuốc bộ nửa ngày xuống chợ huyện Mèo Vạc để mua hàng. Ở đó họ gặp hai người đàn ông rủ vào uống nước rồi hỏi mua Dính với giá 35.000 nhân dân tệ. Dính và bà dì chẳng thể biết được từng ấy tệ là bao nhiêu tiền mình, nhưng khi người ta tính hộ được 1,2 triệu đồng thì cả hai dì cháu thấy…mừng quá. Mừng cũng phải, bởi nó gần bằng với số tiền gia đình vay ngân hàng để mua bò phát triển kinh tế.
Sau khi ngả giá xong xuôi, dì của Dính cầm số tiền ấy về cho gia đình trả nợ. Gia đình cũng làm bữa cơm, nhưng không phải “ăn mừng” cho con gái đi lấy chồng mà là mừng vì trả được số tiền mà họ vẫn nghĩ sẽ không bao giờ trả nổi. Thậm chí, khi rượu ngô đã ngấm vào người, bà dì cũng năn nỉ hai người đàn ông lạ kia nếu thấy được thì hãy mua mình nốt.
Sáng hôm sau hai dì cháu gói gém vài bộ quần áo lên đường sang Trung Quốc để “đi lấy chồng”. Chồng của Dính là một người đàn ông nghe đâu tầm 49- 50 tuổi gì đấy cô cũng không rõ, chỉ biết kém 2 tuổi nữa là bằng tuổi bố mình. Cũng còn may, Dính làm vợ xứ người đúng vào dịp người ta thường xuyên kiểm tra hộ tịch hộ khẩu. Chồng Dính giấu mãi không được, cuối cùng định bán Dính cho một người đàn ông ế vợ khác thì cô bị bắt rồi đẩy qua biên giới, phải tự tìm đường về.
Dính được giải cứu, nhưng với cái nghèo của gia đình ở xã Niêm Tòng, với hoàn cảnh gia đình đông con nhưng thiếu ăn thiếu mặc, với cái suy nghĩ làm vợ ai cũng được không biết liệu cô có bị đem bán lần nữa hay không. Khi bộ đội biên phòng lập biên bản, đọc cho nghe rồi bảo ký, Dính lắc đầu. Ngay cả tên mình cô cũng không biết viết. Cô loay hoay điểm chỉ rồi hồ hởi leo xe về nhà như thể vừa đi chơi xa về vậy.
Giá người phụ nữ bằng tạ ngô
Nếu quy ra tiền Việt Nam đồng thì 5 mẹ con Hạ Thị Súa, người Mông ở xóm Sủa Nhè Lử, xã Xín Cái chỉ có giá hơn 5 triệu một chút. Rất may cuộc buôn bán bất thành nên bây giờ mẹ con cô còn có dịp ở lại đây chuẩn bị đón tết của người Mông. 
Đói nghèo đẩy nhiều cô gái vùng cao phải sang Trung Quốc làm thuê
Sinh năm 1986 nhưng Hạ Thị Súa đã có tới 5 đứa con. Chồng Súa không may qua đời sớm. Biết gia cảnh Súa khó khăn nên Thò Mí Pó (SN 1965), anh họ chồng đến nhà rủ đi lấy chồng Trung Quốc. Gia cảnh quá nghèo nên khi ông anh họ đến rủ lấy chồng Trung Quốc sẽ có tiền thì Súa gật đầu mà không cần phải suy nghĩ thêm gì cả. Cũng may, khi Súa kêu người bán hết nhà cửa, nương rẫy để đi lấy chồng Trung Quốc thì lực lượng biên phòng phát hiện và bắt giữ Pó kịp thời.
Cũng như Dính, khi nhắc lại chuyện này tôi thấy Súa chẳng có vẻ gì sợ hãi. Vẫn biết người Mông vô tư nhưng chứng kiến cảnh một bà mẹ với 5 đứa con suýt bị bán với giá có hơn 5 triệu đồng mà vẫn xem đó là chuyện bình thường thì cán bộ Đông chỉ còn biết lắc đầu. Sau lần đi lấy chồng Trung Quốc hụt ấy nhà Súa càng nghèo hơn. Cuộc sống 5 mẹ con chẳng đủ ăn nên lắm lúc bộ đội biên phòng phải "cứu trợ” đề phòng Súa nản chí lại bán mình thì khổ.
"Buồn nhất là các cô gái bị bán sang làm vợ bên Trung Quốc có khi bị bán đi bán lại như một món hàng thực thụ. Người này “dùng” chán rồi bán cho người khác là chuyện bình thường. Đàn ông Trung Quốc muốn lấy vợ phải có kinh tế, vùng cao nguyên đá lại nghèo nên vô tình trở thành “thị trường” cho họ chọn. Thậm chí nhiều cô bán làm vợ xong rồi lại bị bán vào nhà chứa, công an Trung Quốc truy quét trao trả về thì họ đã thân tàn ma dại rồi”, thượng tá Đông buồn bã.
Vậy đấy, đói nghèo đẩy những cô gái trên cao nguyên đá trở thành hàng hóa. Nhưng vì sao thực trạng ấy không có dấu hiệu thuyên giảm. Không chỉ Xín Cái và bên Thượng Phùng, Sơn Vĩ, Niêm Tòng (huyện Mèo Vạc), Phố Cáo, Phố Là (huyện Đồng Văn) mà các xã khác ở cao nguyên đá thỉnh thoảng lại có một vài cô gái bị đẩy từ bên kia biên giới trở về. Đầu năm đến nay, đồn Săm Pun đón tổng cộng 115 người bị đẩy về từ bên kia biên giới Trung Quốc vậy mà vẫn cứ có người đi.
Cũng như Xín Cái, xã Phố Cáo (Đồng Văn) toàn đá là đá. 600 ha đất có thể sản xuất, hơn 66% số hộ nghèo nên mới có chuyện năm ngoái Giàng Thị Cho (27 tuổi) ở bản Hầu Chúa Ván bị Hoàng Thị Hoan lừa bán sang Trung Quốc với giá chỉ 15kg hạt đậu. Cho chưa về, các cơ quan chức năng đang họp bàn, tổ chức diễn tập, tuyên truyền thì Giàng Thị Dính (29 tuổi) ở bản Kho Chư lại bị bán tiếp.
 Vẫn biết nạn bắt cóc, buôn bán phụ nữ nhan nhản ở vùng cao nhưng người Mông ở Phố Cáo không thể đề phòng. Từ bản Kho Chư đi sang nơi có điện của Trung Quốc gần hơn ra trung tâm xã nên họ phải sang bên đấy để xát ngô. Sau khi Dính bị bắt cóc, UBND Đồng Văn triển khai ngay phương án cấp cho bản Kho Chư một máy xát ngô để giảm tỷ lệ phụ nữ bị…đem bán.
Dẫn tôi lên bản Kho Chư, Phó Bí thư Đảng ủy xã Phố Cáo Trần Trung Sơn đúc kết: 100% dân bản đều hộ nghèo, cứu đói, nên giá phụ nữ như Dính đôi khi rẻ chỉ bằng tạ ngô thôi. Dính rẻ thật, rẻ đến mức chồng cô là Vàng Nhà Súa vẫn nói cười rổn rảng dù chẳng biết số phận vợ mình bây giờ ra sao.
 Các bạn hãy cho biết suy nghĩ của mình khi đọc bài viết trên.

Giải cơn khát vùng cao

Là một trong những tỉnh nghèo nhất nước, Bắc Kạn không chỉ thiếu đất trồng lúa, mà ngay cả nước sạch phục vụ sinh hoạt cũng rất thiếu.
Từ quyết tâm giảm khát...
Khi tái lập tỉnh vào tháng 1/1997, lãnh đạo tỉnh Bắc Kạn gấp rút đưa ra các mục tiêu lớn trong phát triển kinh tế gắn với đời sống dân sinh tại 8 huyện, thị và 122 xã, phường; trong đó có sự chỉ đạo của các cấp uỷ Đảng về việc "giảm gấp cơn khát ở vùng cao". Bởi vào thời điểm đó chỉ có 11% dân số tỉnh Bắc Kạn được sử dụng nước hợp vệ sinh.
Công việc thống kê tình trạng thiếu nước được diễn ra bài bản từ tỉnh, huyện đến cấp xã, thôn và từng hộ gia đình theo phân khúc cụm dân cư, có đánh giá các mặt chủ quan, khách quan và nguyên nhân của thực trạng thiếu nước sạch. Từ đó, ưu tiên đầu tư cho những nơi thiếu nước trầm trọng, chủ yếu ở thôn bản vùng cao, có địa hình núi đá vôi tại các huyện: Ba Bể, Pác Nặm, Ngân Sơn, Na Rì, Chợ Mới, Bạch Thông… với phương châm Nhà nước và nhân dân cùng làm.
Trung tâm Nước sạch và VSMTNT Bắc Kạn cũng từ đó mà hình thành và gấp rút tuyển dụng những cán bộ có chuyên môn, am hiểu về địa bàn cư dân vùng cao, cũng như tập tục sinh hoạt của người dân, từ đó xuống với dân bản theo phương châm “ba cùng”, nắm bắt nguyện vọng cũng như tìm kiếm nguồn nước; bàn với dân về cách làm thế nào tốn ít tiền nhất, hiệu quả cao nhất và công trình bền vững nhất.
Do địa hình phức tạp, các thôn bản vùng cao bị thiếu nước phần nhiều sống trên những núi đá vôi, địa tầng cát - tơ phức tạp, mùa hè có mưa nước chảy trên bề mặt đất, các giếng đầy ắp nước, nhưng chớm đông, mạch nước chảy ngầm, các giếng nước bị khô cạn, nước trở nên vô cùng quí hiếm. Rất nhiều hộ gia đình ở các xã: Vũ Muộn, Cao Sơn, Nguyên Phúc, Sỹ Bình… (huyện Bạch Thông); Liêm Thuỷ, Xuân Dương, Hữu Thác… (Na Rì); Lương Bằng, Nghĩ Tá, Phong Huân, Tân Lập, Xuân Lạc, Nam Cường, Bình Trung... (huyện Chợ Đồn) rất cần nước sạch.
Trong khi túi tiền của dân lại eo hẹp, nguồn vốn ngân sách hạn chế, nên việc phân bổ sao cho hợp lý đã được chính quyền các cấp tổ chức lấy ý kiến người dân một cách công khai, minh bạch tại từng thôn bản, với sự đồng thuận của mọi người thì cho dự án được phép triển khai.
Do làm đúng nên người dân đã ủng hộ và ngay từ số tiền đầu tư ban đầu của Nhà nước đã cứu hàng ngàn hộ dân thoát cơn khát, thông qua việc cấp cho mỗi hộ một chiếc lu tích nước sạch để sử dụng vào mùa đông giá. Suốt hơn 10 năm qua những chiếc lu đó vẫn được hầu hết các hộ gia đình gìn gữ, bảo quản nên sử dụng vẫn tốt.
...Đến giải quyết tận gốc
Với phương thức Nhà nước và nhân dân cùng làm, trên cơ sở minh bạch và bàn bạc thống nhất giữa cơ quan quản lý với từng hộ dân, các chương trình, dự án về nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn được liên kết chặt chẽ giữa 3 ngành là: Sở NN -  PTNT, Sở Y tế, Sở GD - ĐT. Việc huy động các nguồn vốn cho nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn tại Bắc Kạn được triển khai nhịp nhàng.
Tính đến hết năm 2011, Bắc Kạn đã huy động được 210 tỷ đồng cho nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn. Trong đó ngân sách Nhà nước là 113 tỷ, sức dân đóng góp bằng tiền và nhân công lao động gần 75 tỷ đồng và các nguồn vốn khác, để xây dựng 2.463 công trình cấp nước nhỏ lẻ, 247 công trình cấp nước tự chảy tập trung và hàng nghìn chiếc lu chứa nước..., đảm bảo cung cấp nước cho 64.309 người dân nông thôn ở vùng cao, vùng sâu có đủ nước sạch sinh hoạt quanh năm, giúp cho bộ mặt nông thôn Bắc Kạn khởi sắc.
 Như vậy, từ 11% dân số nông thôn Bắc Kạn được sử dụng nước sạch thời điểm năm 1997, lên 55% vào năm 2005 và đạt 80% dân số nông thôn dùng nước sạch vào cuối năm 2011, góp phần đổi thay nếp sinh hoạt lạc hậu tại một số thôn bản vùng sâu.
Sau khi giải quyết gấp vấn đề thiếu nước sinh hoạt tại thôn, bản, hộ gia đình vùng cao, từ năm 2008, các ngành chức năng tỉnh Bắc Kạn đã dần chuyển sang việc triệt tận gốc nguyên nhân thiếu nước sạch tại cấp xã, thông qua việc lập kế hoạch chi tiết sử dụng nước sạch tại từng xã từ việc phát hiện, tìm kiếm và bảo vệ các nguồn nước sạch hiện có, xây dựng phương án đưa dẫn các nguồn nước sạch phục vụ sinh hoạt, chăn nuôi tại từng cụm dân cư, với phương châm sử dụng tiết kiệm, khai thác triệt để và bảo vệ an toàn các nguồn nước sạch.
Bước đầu đã giải quyết dứt điểm tại các xã, theo phương thức xã nào quy hoạch xong thì ưu tiên đầu tư trước. Năm 2010 tập trung cho 3 xã Kim Lư- huyện Na Rì, xã Mai Lạp (Chợ Mới), xã Phong Huân (Chợ Đồn); năm 2011 có các xã Thượng Giáo, Quảng Khê (huyện Ba Bể), xã Cao Tân (Pác Nặm)… Cách làm cuốn chiếu này sẽ giúp cho việc giải quyết tận gốc căn nguyên thiếu nước sinh hoạt, đồng thời góp phần tạo sự đồng thuận của người dân trong việc bảo vệ, khai thác hiệu quả các nguồn nước tinh khiết mà thiên nhiên đã ban tặng.

8 thg 12, 2011

Tang trắng bản nghèo

Vietnamnet:  - 7/12 là ngày định mệnh của nhiều gia đình ở xã nghèo Châu Lý (huyện Quỳ Hợp, Nghệ An). Tang chồng lên tang, cha mất con, vợ mất chồng, con mất bố... 
 
Lầm lũi mưu sinh trong đêm

Cơn mưa rừng tầm tã, những luồng gió rít hoang hoải. Sương mù phủ kín đường rừng. Cánh phóng viên chúng tôi chứng kiến tận cùng nỗi đau của những gia đình mất người thân. Những tiếng khóc ai oán, rên rỉ đầy bi ai.

Trước đó, khoảng 9h đêm ngày 6/12, hơn 10 người đàn ông trụ cột trong các gia đình ở đây đã lên chiếc xe ben đi bốc thuê gỗ thuê.
Chiếc xe ben lầm lũi đưa những người “phu gỗ” vào rừng để bốc vác, đục đẽo tại một cánh rừng thuộc huyện Tương Dương.
Trong căn nhà tuyềnh toàng, thi thể xấu số của 2 anh em là Lô Văn Thông và Lô Văn Minh mới được đưa về
  Họ đã phải trả giá quá đắt khi chiếc xe chở gỗ gặp nạn trên lưng chừng dốc Pù Huột. Và, nhiều gia đình có 2-3 người bỏ mạng.

Trời chạng vạng tối, từng cơn mưa phùn cứ thổi táp vào mặt, chúng tôi đến ngôi nhà đầu tiên có 2 anh em ruột chết thảm là Lô Văn Thông (SN 1988) và Lô Văn Minh (SN 1990) đều trú tại bản Na Lạn, xã Châu Lý. Căn nhà tranh tuyềnh toàng nằm bên sườn núi.

Khói hương nghi ngút, thi thể 2 anh em vừa được đưa về, đặt nằm trên lớp chiếu mong manh.
Nói là căn nhà nhưng thực chất 4 bề được bao bọc bởi những tấm gỗ xẻ, trống hốc. Không khí trở nên ảm đạm, thê lương hơn bao giờ hết.

Cả 2 anh em đều đã có vợ, người em trai có 2 đứa con nhỏ là: Lô Thành Khôi (2 tuổi) và Lô Thị Xin (4 tháng tuổi); người anh có một người con là Lô Anh Đô (2 tuổi). 2 người vợ vừa ôm con vừa khóc sưng húp mắt, ra sức kêu gào như ai oán giữa núi rừng.
Sau đêm định mệnh 7/12, từ nay, 2 chị Lô Thị Nhị và Lô Thị Dung phải chịu cảnh goá chồng, một mình nuôi con thơ dại.

Ông Hùng, bố của 2 người con chết cùng một lúc nằm bên thi thể con khóc than: “Trời ơi, sao lại bắt một lúc 2 đứa con trai của tôi”. Nói xong ông liên tục đấm tay vào đất, rồi nằm ngất lịm đi.


Những người vợ, người mẹ ôm con khóc cạn nước mắt vì mất người thân.
Bàn thờ dị ảnh của anh Lê Văn Lường, đứa con trai mới học lớp 10 đang đứng chống gậy tiễn biệt cha.
  Anh Lương Văn Chống (anh vợ của Thông) ngồi bên cạnh quan tài xót xa nói: “Thời gian rỗi, thi thoảng 2 anh em lại đi bốc gỗ thuê cho ông chủ gỗ nào đó. Đi làm một ngày cũng kiếm được từ 100 đến 150 ngàn đồng, nhưng phải làm cả đêm khổ lắm. Nhưng không làm thì không có tiền mà mua gạo nuôi con nhỏ. Không ngờ rằng sáng nay chính tôi phải đẽo gỗ làm quan tài cho mấy đứa. Vợ hắn đang ngồi ôm con khóc trong nhà suốt…”.

‘Sao anh bỏ mẹ con em ra đi’


Một ngày buồn thê thảm của bản làng. Bản trên có người chết, bản dưới có người trọng thương đang cấp cứu trong bệnh viện.

Tại nhà nạn nhân tử vong Lê Văn Lường (SN 1970, trú tại bản Na Lạn,) từng cột khói hương bốc lên nghi ngút. Anh ra đi để lại người vợ là chị Nguyễn Thị Tâm và 2 đứa con đang tuổi ăn học là Lê Thị Vân (học sinh lớp 11) và em Lê Văn Phú (học sinh lớp 10).

Vành khăn trắng phủ kín cả đầu những người thân, chị Tâm gào lên những tiếng mặn đắng: “Anh Lường ơi. Anh trẻ lắm, sao anh lại bỏ mẹ con em mà ra đi. Anh ra đi các con mồ côi ai nuôi đây? Con thì đang tuổi học, dại lắm, nhà cửa thì đang làm dở chưa xong. Ôi trời ơi, oan quá…”.
Bên chiếc quan tài được đục từ một cây gỗ lớn, người thân của 2 anh em nạn nhân Vi Văn Là và Vi Văn Hiếu đang khóc than thảm thiết.
Gần 11h đêm, chúng tôi tiếp tục đến nhà có 2 anh em ruột cùng chung số phận tử nạn là Vi Văn Là (SN 1976) và Vi Văn Hiếu (SN 1982). Lúc này, những người thân khóc cạn nước mắt ngồi quây quần bên chiếc quan tài được làm từ một cây gỗ lớn.

Vợ ôm quan tài chồng, mẹ già đứt từng khúc ruột khi chứng kiến con trai ra đi.
Sự ra đi đột ngột của 2 người cha, 2 người chồng, để lại những đứa con thơ vừa mới lọt lòng được 3 tháng tuổi và gần 3 tuổi. Con của các anh còn quá nhỏ, chưa thể biết được cha chú mình chết rất thảm thương.

Ông Lê Văn Hà, Công an viên kiêm phó bản Na Lạn thông tin: “Đau đớn quá chú ơi. Riêng bản Na Lạn có 5 người chết cùng một lúc, trong đó có 4 người ở 2 gia đình đều là anh em ruột. Những người này đều đi bốc gỗ thuê, con thì còn nhỏ, gia đình thì đều là hộ nghèo nên khi ai thuê mướn việc gì là đều đi kiếm tiền nuôi gia đình".

Anh Hà nói, anh và nhiều người dân trong bản không tin nổi tai hoạ lại thảm khốc đến một lúc như thế. Không ai muốn tin, nhưng đó là sự thật nghiệt ngã...Đồng hồ điểm 0h sáng, cơn mưa đêm nặng hạt đã bao trùm lên khắp bản làng...