Máy sấy lúa không dùng điện

Từ những bất tiện trong việc sấy lúa tạo tiếng ồn lớn, tro bụi bay, giá điện lại ngày càng tăng cao, anh Nguyễn Hoàng Phi, cán bộ Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Phú Tân, tỉnh An Giang đã chế tạo thành công và đưa vào ứng dụng máy sấy lúa di động thân thiện với môi trường.

Những phát minh Tiêu biểu năm 2011

Kết thúc năm 2011, tạp chí Khoa học phổ thông (PS) của Mỹ đã bình chọn và công bố danh sách những phát minh tiêu biểu trong năm, trong số này có 10 phát minh nổi bật dưới đây, đã và đang được ứng dụng thành công trong cuộc sống...

Kỹ thuật trồng hoa Trà

Mỗi năm trà đơm hoa một vụ kéo dài tới vài ba tháng. Thâm hồng và phấn hồng lại nở hoa đúng vào dịp Tết nguyên đán. Bạch trà nở trước tết nhưng nếu cây to vẫn còn nhiều hoa chơi Tết, nay ta lại có thể điều khiển được để bạch trà nở rộ hoa đúng Tết..

Hiển thị các bài đăng có nhãn Nhà nông làm giàu. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nhà nông làm giàu. Hiển thị tất cả bài đăng

14 thg 4, 2012

Nông dân... công nghệ cao

Đó là những nông dân tại TP Đà Lạt (tỉnh Lâm Đồng) vừa tay cuốc tay cày lại vừa làm “khoa học” trong phòng lab nuôi cấy mô.
Anh Lê Văn Hải tại phòng nuôi cấy mô với công suất 100.000 cây giống/năm -Ảnh: MAI VINH
Không ít nông dân đã bỏ hàng tỉ đồng để lập phòng lab nuôi cấy mô và thuê các kỹ sư, cử nhân, kỹ thuật viên cao cấp về làm việc, tạo ra những dòng cây giống sạch bệnh có chất lượng cao cung cấp cho thị trường trong và ngoài nước. Trong 58 phòng nuôi cấy mô tế bào thực vật ở Đà Lạt có tới 90% là do nông dân, tư nhân bỏ tiền ra đầu tư.
“Giám đốc nông dân”
Trước cổng trại giống cây PH của “giám đốc nông dân” Trương Đức Phú tại P.11, TP Đà Lạt có một tấm biển với nét mực còn mới: “Cần tuyển 2 kỹ sư sinh học và 6 kỹ thuật viên nuôi cấy mô”. Phía trong, trên khu đất rộng 0,5ha là những vườn ươm cây giống, khu dưỡng cây bố mẹ, nhà xưởng, gara xe hơi cùng dãy phòng nuôi cấy mô được anh Phú đầu tư xây dựng khang trang, sạch sẽ. “Tính đến nay, riêng phòng nuôi cấy mô với 12 tủ cấy nhân giống tôi đã phải đầu tư trên 2 tỉ đồng” - anh Phú ước tính.
Anh Phú là nông dân thứ thiệt và đã gắn với nghề trồng hoa từ những năm 1980. Nghe mọi người kháo nhau nhiều về việc tạo giống bằng phương pháp cấy mô sẽ cho ra những cây con mới đạt chuẩn, không sâu bệnh, anh Phú bàn với vợ - chị Hương, cử nhân ngành sinh học - quyết tâm đầu tư mở phòng cấy mô sản xuất giống tại nhà, xây dựng phòng nuôi cấy mô cho mình với chỉ hai buồng cấy. Đó là thời điểm của sáu năm trước đây, khi đó “nhìn lứa cây giống nuôi cấy mô đầu tiên bán cho bà con trồng trên ruộng phát triển tốt, cho hoa đẹp, tôi nhủ thầm: thắng rồi!” - anh Phú nhớ lại.
Đến nay anh Phú đã có thể cung cấp mỗi năm khoảng 2 triệu cây giống hoa các loại như hồng môn, cúc, salem, đồng tiền, cẩm chướng, layơn, sao tím, bibi, tuylip... và cả dâu tây cho thị trường giống cả nước. Với giá giống hiện thời từ 700-5.000 đồng/cây (tùy loại hoa) và chỉ tính lượng giống bán ra thì doanh thu một năm của anh Phú có thể đạt 3-4 tỉ đồng. Để có đủ cây giống giao cho bạn hàng, hiện phòng nuôi cấy mô của nông dân Phú phải thuê đến 4 kỹ sư, 20 kỹ thuật viên với mức lương 3,5-5 triệu đồng/tháng.
Cũng giống như anh Phú, nông dân Lê Văn Hải giờ đây còn là ông chủ phòng nuôi cấy mô với ba kỹ sư và một kỹ thuật viên đang ngày ngày miệt mài sản xuất giống các loại hoa cúc. Trong căn nhà hai tầng rộng chừng 40m2, anh Hải dành nguyên một tầng lầu để làm phòng cấy mô phục vụ việc nhân giống cây trồng. Căn phòng vô trùng ấy là một thế giới khác hẳn với vùng đất nông nghiệp Thái Phiên (P.13, TP Đà Lạt) hăng hắc bụi đất đỏ và ngai ngái mùi phân bón.
Phòng cấy mô của anh Hải hằng năm cho ra khoảng 100.000 cây giống của 25 chủng loại cúc khác nhau. Anh Hải chỉ vào hai tủ cấy mô, tủ hấp tiệt trùng và vài thiết bị hay gặp ở các phòng thí nghiệm hóa sinh cười vui: “Thiết bị nhà nông của tôi đây. Nhờ có nó mà tôi cũng như bà con dần “lên đời” làm nông dân mới, cuộc sống ngày càng khỏe hơn”.
Vui khi là “lính” nông dân
Vị sư  “nuôi cấy mô”
Đó là sư thầy Thích Huệ Đăng, giám đốc Công ty TNHH xuất khẩu hoa lan Thanh Quang (P.3, TP Đà Lạt), đã có nhiều năm cùng với 40 kỹ sư nghiên cứu, sản xuất khoảng 20 giống lan quý hiếm cung cấp cho bà con nông dân và xuất khẩu đi các nước.
Mới đây, để làm phúc cho bá tánh - bà con nông dân hơn nữa, sư thầy cùng với các kỹ sư đã nuôi cấy mô và sản xuất thành công giống sâm ngọc linh.
Hiện tại trong phòng nuôi cấy mô của sư thầy đang có khoảng 1,5 triệu phôi giống sâm ngọc linh.
Ngoài ra, còn hơn 1 triệu cây sâm ngọc linh sản xuất theo công nghệ cấy mô đã được đem trồng thực nghiệm tại các tỉnh Quảng Trị, Kon Tum, Lào Cai, Vĩnh Phúc và TP Đà Lạt.
Nguyễn Thị Mỹ Thắm, tốt nghiệp khoa sinh học Đại học Đà Lạt và đã có thâm niên làm “lính” cho các ông chủ nông dân hơn năm năm, cho rằng rất thoải mái khi làm việc tại các phòng nuôi cấy mô của bà con nông dân. “Ngành sinh học không nhất thiết phải gắn với các cơ quan, viện, trường. Môi trường làm việc thoải mái và có đãi ngộ thỏa đáng như tại phòng nuôi cấy mô của anh Hải này làm chúng tôi rất yên tâm” - Thắm bộc bạch.
Cử nhân sinh học Phan Thị Ngọc Hiền, đang làm cho nông dân Trương Đức Phú, cụ thể hơn trong suy nghĩ: “Làm việc với ông chủ là nông dân tôi càng thêm yêu và gắn bó với ngành nông nghiệp Đà Lạt hơn”. Hiền cũng cho biết làm “lính” cho nông dân thì học hỏi được rất nhiều kinh nghiệm thực tế từ ruộng đồng mà điều này chẳng sách vở nào có được. Hiền đang đi học thêm văn bằng hai và dự định: “Tích lũy kinh nghiệm, gom vốn, một thời gian sau tôi mong ước cũng sẽ mở được một phòng nuôi cấy mô cho riêng mình”.
Bà Nguyễn Thị Tường Vi - cán bộ Hội Nông dân tỉnh Lâm Đồng, chủ nhiệm chương trình Quản lý giống cây trồng sản xuất bằng phương pháp cấy mô - cho rằng hầu hết các cơ sở đều có cán bộ kỹ thuật là cử nhân, kỹ thuật viên có kinh nghiệm lâu năm với trình độ chuyên môn cao. Những cơ sở này một năm sản xuất ra trung bình khoảng 500.000 cây giống/cơ sở với chất lượng tương đối tốt, kháng bệnh, tỉ lệ sống cao.
Bà Vi cũng kiến nghị thêm: “Nhà nước nên lập các trung tâm phân tích, test để đánh giá chất lượng cây giống nhằm hỗ trợ thêm cho bà con nông dân đang sản xuất giống theo mô hình phòng nuôi cấy mô đạt hiệu quả hơn nữa”.

13 thg 4, 2012

Lê Văn Phước :Nuôi cá sặc rằn cho thu nhập cao

Anh Lê Văn Phước Trưởng ở ấp 2, xã Mỹ Trà là một trong những nông dân nuôi cá sặc rằn thành công ở thành phố Cao Lãnh. Với 3000 m2 mặt nước, anh thu lợi nhuận từ 150 – 200 triệu đồng/năm.
Anh Trưởng cho biết, anh đã cho sinh sản nhân tạo cá sặc rằn thành công và hoàn toàn chủ động được con giống. Anh luôn duy trì 300 cặp cá bố mẹ trong ao để làm giống. Để hạn chế thoái hóa giống, anh hoán đổi cá bố mẹ đã được tuyển chọn sau mỗi vụ nuôi. Theo anh, có thể dễ dàng phân biệt cá đực hay cá cái qua các đặc điểm như: cá đực có tia vây chạm dài tới đuôi, trong khi tia vây của cá cái ngắn hơn; cá đực có đường sắc tố chạy dài từ sống lưng xuống bụng rõ ràng, cá cái không có màu sắc trên thân và vây…
Trong điều kiện tự nhiên, từ tháng 4 đến tháng 9 hàng năm là khoảng thời gian thích hợp để cá đẻ. Thông thường, khi cá 1 năm tuổi, cá bắt đầu thành thục sinh sản lần đầu. Mỗi cá mẹ đẻ trung bình khoảng 25.000 trứng/đợt. Theo cách làm của anh, anh thả cành trâm bầu khô xuống ao để tạo ổ cho cá đẻ. Sau khi cá đẻ, anh để trứng nở tại chỗ hoặc vớt sang ao khác. Anh Trưởng nhấn mạnh, ánh sáng là yếu tố đặc biệt quan trọng. Nếu sử dụng những ao thiếu ánh sáng thì kết quả ương nuôi sẽ thấp, do vậy, không nên để bóng cây che lấp mặt ao.
Trong ương nuôi cá sặc rằn, anh Trưởng cho biết, phải quản lý tốt các công đoạn từ chăm sóc cá giống, cải tạo ao nuôi và chăm sóc cá thương phẩm. Mật độ cá nuôi từ 25 - 30 con/m2. Độ sâu ao nuôi từ 1 - 1,5m, ao gần nguồn nước sạch và có thể cấp thoát nước chủ động. Cá giống phải khoẻ mạnh, đồng cỡ, không xây xát, không dị hình. Nguồn thức ăn cho cá sặc rằn thương phẩm chủ yếu là thức ăn công nghiệp dùng cho cá điêu hồng. Khẩu phần thức ăn từ 5 - 7% trọng lượng cá/ngày. Đối với cá con, hòa bột đậu xanh và trứng gà làm thức ăn cho cá.
Anh thường xuyên quan sát ao cá để kịp thời phát hiện cá bị bệnh và điều trị. Theo anh, cá thường bị 2 bệnh phổ biến đó là bệnh đốm trắng (bệnh trùng quả dưa) và bệnh trùng bánh xe.
Sau 8 - 10 tháng nuôi, cá đạt trọng lượng 100 – 150 g/con, anh tiến hành thu hoạch. Theo anh, nên thu tỉa theo từng đợt và thu hoạch cá lúc trời mát.
Với giá cá thương phẩm 65.000 – 68.000 đồng/kg và đầu ra ổn định, mô hình nuôi cá sặc rằn ở thành phố Cao Lãnh đang được khuyến khích nhân rộng.
Võ Thanh Tuấn - Hội nông dân xã Tịnh Thới, ĐT

24 thg 2, 2012

Gom lá tre xuất khẩu thu 2 tỷ mỗi năm

 Từ việc thu mua và bán lá bương - một loại cây họ tre - mét, chị Đặng Thị Triệu, một nông dân ở xã An Phú, huyện Mỹ Đức, Hà Nội đã trở thành một tỉ phú.

Lá bương được các thương lái Đài Loan thu mua với số lượng lớn. Theo các thương lái này, lá bương được chuyển về Đài Loan để làm lá gói bánh hoặc đan thành túi đựng thực phẩm.
Nói về ý tưởng kinh doanh lá bương, chị Triệu cho biết: "Tôi bắt đầu việc buôn bán lá bương từ năm 1992. Khi ấy, hai vợ chồng với 4 đứa con, một đứa lại tàn tật chỉ trông vào mấy sào ruộng nên cuộc sống rất khó khăn. Thấy người ta vào thung hái lá bương về bán nên tôi nghĩ đến việc làm đầu mối thu mua, bán lại cho các chủ hàng ở Ngọc Hồi, Hà Nội".
"Lá bương sau khi hái về, được đưa vào lò sấy khô, rồi ép thành kiện. Tiếp theo, kiện được mở ra, đây cũng là lúc phân loại và tuyển chọn lá. Tùy theo độ rộng và dài của lá, lá bương được phân thành loại A và loại B. Sau đó, lá sẽ được sấy thêm một lửa nữa, rồi mới được đóng gói và vận chuyển tới các cơ sở thu mua tại Phú Thọ.
Ép lá thẳng trước khi sấy khô. (Ảnh: Hương Mai)
Việc sấy lá là khâu quan trọng nhất. Nếu không đúng lửa, lá dễ bị mốc và hỏng. Lúc ấy chỉ có nước đổ lá đi. Nhớ lúc mới làm nghề này, tôi cũng trải qua nhiều lần thua lỗ vì lá chỉ đạt được 70% chất lượng đối tác yêu cầu", chị Triệu nói.
Để học được kỹ thuật sấy lá khô không bị mốc, chị Triệu đã phải thuê thợ lành nghề từ Phú Thọ đến cùng làm và truyền nghề trong vòng một tháng. Giờ đây, khi đã lành nghề, chị hướng dẫn lại kỹ thuật cho các chủ xưởng là đầu mối thu mua hàng.
Chị Triệu chia sẻ: "Việc sấy lá bương cũng phải hết sức cẩn thận để đề phòng hỏa hoạn. Cách đây 2 năm thôi, do gió lốc mà lò sấy nhà tôi đã bị bà hỏa "ghé thăm". Không chỉ cháy hết lá trong lò, mà một gian nhà gần đó cũng bị lửa bén vào. Tổng thiệt hại khoảng 20 triệu đồng, may mà không có thiệt hại về người. Việc kinh doanh lá bương có khi cũng nhiều khó khăn, trở ngại chứ không hề đơn giản".
Nhận thấy việc buôn bán qua tay chủ Việt Nam lãi suất không cao nên từ 4 năm nay chị Triệu đã là đầu mối trực tiếp thu mua và xuất khẩu lá bương cho chủ Đài Loan. "Khi sản phẩm của mình đạt chất lượng cao, làm việc có uy tín thì chủ nước ngoài tự tìm đến, đặt hàng và đầu tư cho mình", chị Triệu khẳng định.
Một yến lá bương tươi có giá 6.000 đồng, sau khi phơi sấy thành thành phẩm thu về 4 kg lá khô. Hiện lá bương có giá 31.000 đồng/kg. Mỗi năm chị Triệu xuất sang Đài Loan từ 150 đến 200 tấn lá bương.
Theo chị Triệu, nghề làm lá bương bận rộn nhất là từ tháng 5 đến tháng 11, bởi chỉ khi vào mùa mưa, những cành bương non mới đâm chồi, nảy lộc, những cành lá to gần như hai bàn tay người lớn xòe ra bắt đầu xanh già. Lá bương khi ấy sẽ đạt chất lượng tốt nhất.
Vào lúc chính vụ, xưởng của chị Triệu có từ 20 đến 30 công nhân làm việc, với mức thu nhập từ 50 nghìn đồng đến 100 nghìn đồng một ngày. Bên cạnh đó, xưởng của chị Triệu còn là đầu mối thu mua sản phẩm từ 4 xưởng khác tại địa phương. Ước tính, có 100 công nhân chủ yếu là phụ nữ địa phương được tạo công ăn việc làm từ việc kinh doanh lá bương của chị Triệu. Mới đây, chị Triệu cũng đã khai trương thêm hai xưởng làm lá bương tại Phú Thọ.
Sấy lá, đòi hồi hỏi sự cẩn thận và kinh nghiệm. (Ảnh: Hương Mai)
Hiện cơ sở thu mua lá bương, sấy khô, đóng gói và xuất của chị Triệu ngày càng hiệu quả với doanh thu từ 125 triệu đồng năm 2007 đã lên đến hơn 2 tỷ năm 2010.
Chị Triệu dự định sẽ đầu tư  thêm trang thiết bị và mở rộng địa bàn thu mua tới 6 huyện là Kim Bôi, Lạc Thuỷ, Lương Sơn, Đà Bắc (tỉnh Hoà Bình) và Mai Sơn, Phù Yên (tỉnh Sơn La).
Chị Triệu nói: "Đây là một mô hình kinh doanh mới và rất có tiềm năng tại địa phương nên tôi vẫn luôn khuyến khích và động viên bà con trong thôn xã cùng tham gia hoạt động kinh doanh để mọi người có cơ hội tạo thu nhập ngày càng cao".
Theo: (VEF.VN)

29 thg 1, 2012

Nữ nông dân thành triệu phú nhờ trồng nấm

Dằn lưng số vốn ít ỏi 2 triệu đồng, không kiến thức trong tay, chị Đào Thị Thiện (thôn Quảng Hội, Quang Tiến, Sóc Sơn) vẫn quyết tâm học hỏi kinh nghiệm và vươn lên trở thành một “bà chủ” ở thôn Quảng Hội. Chị là một trong bảy gương mặt phụ nữ trên cả nước được Ủy ban Giải thưởng Phụ nữ Việt Nam bình chọn trao giải Phụ nữ Việt Nam năm 2011.

Nửa đời “dệt tầm gai” 

Sinh ra và lớn lên tại thôn Quảng Hội, xã Quảng Tiến, Sóc Sơn, chị Đào Thị Thiện thấm thía hơn ai hết cuộc sống khốn khó, bấp bênh ở một miền quê nghèo. Ruộng đất bạc màu, người dân quanh năm bán mặt cho đất, bán lưng cho trời vẫn không đủ sống. Làng không nghề phụ hỗ trợ, nhà ai cũng xác xơ.

17 tuổi, chị Thiện cưới anh hàng xóm cách nhà dăm ba bước chân. Tình yêu nảy nở suốt quãng thời gian anh kiên cường tham gia kháng chiến chống Mỹ năm 1974. Lúc nên vợ nên chồng, hai bên gia đình đều túng bấn, chẳng có gì cho các con. 

Sau khi cưới được tròn 15 ngày, anh vội vã ra chiến trường, để lại chị với mẹ già và các em trai còn nhỏ xíu. Ba tháng sau ngày cưới, khi chồng biền biệt nơi xa, mẹ chồng chị bị băng huyết, chị là người duy nhất trong nhà cùng nhóm máu với mẹ. Không ngần ngại truyền máu cứu mẹ chồng, một mình chị cứ chạy đôn chạy đáo đưa mẹ đi tuyến trên, tuyến dưới điều trị.

Chị Đào Thị Thiện giới thiệu mô hình trồng nấm của gia đình

Suốt 6 tháng triền miên chăm mẹ ốm, người phụ nữ nhỏ thó chưa đầy 20 tuổi trở thành trụ cột duy nhất cho mẹ chồng và các em chồng nương dựa. Cậu em út của chồng ngày ấy mới 3 tuổi, còn quá bé, chị vừa chăm mẹ, vừa kiêm thêm nhiệm vụ nuôi dưỡng các em khôn lớn. 

Đầu làng cuối xóm, ai cũng cảm phục trước hoàn cảnh neo đơn, chịu thương chịu khó của cô thôn nữ nghèo Đào Thị Thiện. Chưa bao giờ chị ca thán, chị luôn gồng mình lên để vun đắp hậu phương vững chắc cho chồng bằng việc tần tảo với 7 sào ruộng và đàn gà, lợn. Tuổi thanh xuân với bao nỗi niềm chất chứa cứ trôi đi. Xa chồng, chị dồn tất cả yêu thương vào việc cày cấy, chăm lo gia đình. Chị nhẫn nại chắt chiu từng niềm vui, không bao giờ kỳ vọng những điều lớn lao trong cuộc sống.

Ba năm sau, anh về phục viên vì hoàn cảnh gia đình khó khăn, cộng thêm hậu quả của việc ảnh hưởng chất độc da cam khiến anh không đủ sức chiến đấu trên mặt trận. Chất độc dioxin cũng cướp luôn quyền làm cha của anh. Nỗi đau chết lặng trong lòng người vợ trẻ Đào Thị Thiện, nhưng chị không bao giờ nhắc đến. 

Cố nén khao khát được một lần làm mẹ, chị động viên anh xin con nuôi để vui cửa vui nhà. Năm 1983, anh chị xin một cháu gái ở Ấn Thượng, Đoan Hùng, Phú Thọ mới được 9 tháng tuổi về nuôi, đặt tên là Trần Thị Thuận. Bé Thuận ốm yếu quanh năm, từ nhỏ đã bị bệnh đường ruột, chuyện ăn uống vô cùng vất vả. Đến khi chập chững biết đi, Thuận bị vòng kiềng quá nặng. 

Thương con như giọt máu đẻ ra, hai anh chị quyết tâm đèo nhau bằng xe đạp cũ chở con đến Bệnh viện chỉnh hình Sơn Tây chữa trị. Lại 6 tháng triền miên đi đi về về, những gì giá trị trong gian nhà liêu xiêu đều đội nón ra đi. Chị ki cóp, tận dụng tất cả để lấy tiền chữa bệnh cho con gái. Vẫn không đủ, chị bán cả ít vàng mẹ đẻ lén đưa con gái khi chị đi lấy chồng. Bằng tình yêu của người mẹ nuôi, bé Thuận dần dần lành bệnh và hoàn chỉnh đôi chân.
Theo Vietnam+



Khao khát có thêm tiếng cười trẻ thơ, năm 1987, chị cùng chồng đón thêm một đứa con về nuôi. Lần này là một bé trai 6 tuổi, bé Trần Văn Thăng ở thôn Đức Hậu, Sóc Sơn. Thuận 5 tuổi, Thăng 6 tuổi. Hai đứa trẻ sàn sàn nhau như hột gà hột vịt lúc nào cũng đòi mẹ Thiện, tranh nhau ngủ với mẹ. Ngày nào cũng thế, sau khi các con ngủ say, chị Thiện lại trở mình thức giấc, làm nốt những công việc ruộng đồng, nuôi con gà con lợn gia tăng thu nhập. Chị lặng lẽ “dệt” hạnh phúc từ tiếng cười của các con, được nhìn con ngủ say, nhìn con học bài, được có chồng bên cạnh. 

“Người ta làm được, mình cũng làm được”

Càng yêu chồng thương con, chị Thiện càng cố gắng trồng trọt, chăn nuôi để đỡ đần gia đình. Những nỗ lực như muối bỏ bể, kinh tế gia đình vẫn dậm chân tại chỗ, nhiều lúc khốn đốn không đủ tiền đóng học cho con. Nhìn hai đứa con nuôi ăn không đủ no, học không đủ sách, chị nuốt nước mắt vào lòng, cố gắng trồng thêm rau, nuôi thêm con lợn. 

Năm 1996, chị Thiện tham gia nhóm phụ nữ vay vốn và tiết kiệm của thôn mong thoát nghèo. Cơ duyên đến với nghề trồng nấm của chị đến từ một chương trình truyền hình về nông nghiệp: “Nhìn người ta hái nấm mà thèm. Lại thấy kỹ thuật không quá khó so với những người ít có điều kiện học hành, học cao như tôi. Thấy họ làm được, tôi nghĩ mình cũng có thể làm được. Tôi tự tìm hiểu bằng cách đến một số cơ sở trồng nấm để học nghề”. 

Ấp ủ mãi, năm 2006, chị bắt đầu sự nghiệp từ 2 triệu đồng nhờ bán lợn, bán thóc. Chị bàn với chồng, vay ngân hàng thêm 8 triệu và lặn lội tìm đến Trung tâm Công nghệ sinh học tận trung tâm Hà Nội xin sách, nhờ các cán bộ trung tâm giúp đỡ kỹ thuật. Vừa học vừa làm luôn, hễ có gì vướng mắc, chị lại đạp xe lên trung tâm hỏi các thầy cô thật kĩ. 

Chị Thiện nhớ lại: “Nghĩ thì đơn giản, nhưng khi bắt tay vào thực hiện mới thấy thật nhiều khó khăn: vốn mỏng, cơ sở vật chất thiếu thốn, bản thân chưa được trang bị kỹ thuật trồng nấm cũng như có kỹ thuật cũng như kinh nghiệm về nghề trồng nấm. Ngay cả tới việc thu hoạch nấm xong thì bán cho ai, bán đi đâu tôi cũng chưa biết.”

Tuy vậy, với quyết tâm thoát nghèo, chị Thiện “nhủ lòng mình” không để những khó khăn làm bước. Nhờ sự hăng say và kiên trì vượt khó, chị thành công ngay từ những lứa nấm đầu tiên. Cả ba loại nấm chị mạnh dạn trồng: nấm sò, nấm rơm, nấm mỡ đều cho sản lượng cao. Cuối năm đầu tiên, chị lãi 40 triệu đồng. 

“Số tiền kiếm được gấp 4-5 lần so với trồng lúa, nuôi lợn. Có chồng con bên cạnh ủng hộ và chung tay, tôi quyết định mở rộng diện tích lán trại," chị Thiện quyết không đầu hàng số phận. Năm 2010, chị đã mở rộng mô hình sản xuất của mình từ 200m2 lán trại lên 650m2, thu hoạch từ 17-25 tấn nấm tươi các loại. Số tiền lãi giờ đã gấp 10 lần những ngày bỡ ngỡ làm ban đầu. Chị còn tạo việc làm cho 15 lao động quanh thôn có điều kiện tăng thêm thu nhập. 

Với số tiền kiếm được, chị và anh thường xuyên trích 20 triệu đồng mỗi năm ủng hộ Quỹ từ thiện xã, ùng hộ đồng bào lũ lụt, các cháu nhiễm chất độc da cam, các cháu tàn tật; thậm chí chị mua áo ấm tặng cho những hộ gia đình nghèo quanh nhà… Năm 2008, gia đình chị Thiện trở thành mô hình điểm trồng nấm tại Sóc Sơn. Chị đạt danh hiệu “ Người tốt việc tốt” và vinh dự nhận danh hiệu hộ nông dân sản xuất giỏi cấp Thành phố. 

Tháng 7/2010, chị Thiện tập hợp thêm 9 chị em trong làng thành lập Hợp tác xã Nấm Sáng Thiện do chị làm Chủ nhiệm, với số vốn gần 1,5 tỷ. Chỉ sau 1 năm sản xuất, hợp tác xã Sáng Thiện đã xây dựng được 20 lán trại trên 3.900m2 đất, thu hoạch hơn 55 tấn nấm tươi, thu lãi hơn 500 triệu đồng mỗi năm. Một ngày làm việc của chị Thiện kéo dài hơn 10 tiếng đồng hồ ngoài trại nấm. 

Chẳng biết tự lúc nào, chị đã “say” các loại nấm, có những đêm miệt mài kiểm tra các giạ nấm, khi trở về nhà đã 2-3 giờ sáng. May mắn vì chồng chị luôn thông cảm và khích lệ chị. Hai đứa con ốm đau giờ đã lớn, đã biết tự lập. Người phụ nữ “dệt tầm gai” ngày nào đã có cuộc sống đủ đầy và quay quần bên chồng con.

Tiền tỉ từ trang trại kì dị

Trang trại rộng chưa đến 2.000 m2, song là nơi cư trú của hàng ngàn con dúi, hơn trăm con hon cùng lúc nhúc rắn rết, cóc nhái, kỳ đà... Điều đặc biệt, tất cả các loài động vật mới nghe tên đã rùng mình ấy đều được nuôi bằng cách thức kỳ lạ, nhưng mang lại cho chủ nhân của chúng mỗi năm cả tỉ đồng.
SỐNG ĐỘNG HƠN DISCOVERY
Tôi là người rất thích xem chương trình thế giới động vật trên kênh truyền hình Discovery của Mỹ bởi sự sống động và chân thật. Nhưng tình cờ một lần được tham quan trang trại của anh Dư Văn Hai ở xã Minh Quang (Tam Đảo - Vĩnh Phúc) tôi thấy cách người đàn ông dân tộc Sán Dìu này tổ chức, sắp xếp mô hình chăn nuôi các con vật kỳ dị của mình còn chân thật và sinh động hơn Discovery gấp nhiều lần.
Quả thực, những người yếu tim chắc không chịu nổi 5 phút khi bước chân xuống khu trang trại rùng rợn của anh Hai. Được bao quanh bằng hệ thống tường xây cao tới 5 mét có đầy đủ ao nước, cây cối, hang hốc rậm rạp um tùm như một khu rừng nguyên sinh. Dù đã chuẩn bị tinh thần từ trước, nhưng tôi suýt bắn tim ra khỏi lồng ngực, nhảy dựng lên khi có một con rắn bò nhột nhột qua chân. Chưa kịp hoàn hồn, ngẩng đầu lên lại thấy đàn rắn nhung nhúc đang quấn trên ngọn tre phi lủm bủm xuống ao chạy trốn khi thấy bóng dáng người.
Lúc nhúc rắn nằm phơi nắng
Quờ tay bắt được một túm tới ba con rắn to bằng bụng tay, anh Hai cười trấn an tôi đừng sợ vì đây là giống rắn ráo không có độc. Chỉ tay lên giàn mướp có hàng chục con rắn đang phơi nắng, anh Hai cho biết, hiện trong khu vườn có khoảng 800 con rắn ráo lớn nhỏ, gần 100 con rắn hổ trâu, 260 con rắn hổ mang và hơn 2 tạ rắn mòng. Tất cả chúng đều sinh sống bằng bản năng hoang dã, tự kiếm ăn, giao phối và đẻ trứng, sinh con tại trang trại. Hàng năm, anh Hai chỉ việc lọc những con rắn trưởng thành đem bán đã thu về hơn 500 triệu đồng.
Tôi thắc mắc, với diện tích chật hẹp và mật độ các loài dày đặc như vậy, nguồn thức ăn cho chúng ở đâu? Dẫn tôi ra góc vườn chất đầy gạch vụn, lật một vài tấm bê tông vỡ anh chỉ cho tôi thấy lổn nhổn cóc nhái đang nằm trú đông trong đó. Thì ra, anh Hai thu mua cóc nhái về thả xuống vườn, cóc nhái xuống ao đẻ trứng, rồi tự sinh sôi nảy nở là nguồn thức ăn cho rắn.
Thỉnh thoảng, chập tối anh thắp bóng điện lên thu hút côn trùng về là cóc nhái có thức ăn trong cả tuần. Anh tâm sự: “Ngày trước, khi chưa áp dụng mô hình nuôi cóc nhái, mỗi năm tôi phải bỏ ra vài chục triệu đồng để mua thức ăn cho rắn, giờ tôi chẳng phải lo nữa vì cóc nhái tự sinh sản được khá nhiều. Với rắn mòng, tôi thả vài trăm con cá rô phi, chúng sinh sôi khắp ao nên chẳng bao giờ phải lo thức ăn”.
Đang mải nói chuyện, bỗng âm thanh “kêu cứu” của một con nhái vang lên thảm thiết, theo bản năng tôi chạy về phía đó và thấy một chú rắn ráo khoảng nửa ký đang xơi tái một chú nhái. Với anh Hai, việc rắn săn mồi ở trang trại là chuyện thường ngày như cơm bữa, vào mùa hè thậm chí vợ chồng anh còn đau đầu, nhức óc vì nhái “kêu cứu” suốt ngày. Dùng máy ảnh ghi lại khoảnh khắc hiếm có ấy, tôi lại một phen nữa hồn xiêu phách lạc vì âm thanh “phì phì” phía sau. Thì ra tôi đã đánh động phải chỗ ở của lũ rắn hổ trâu nên chúng cảnh báo, vậy mà anh Hai không ngần ngại thò tay túm lên một con vằn vện từ đống gạch như bắt con lươn.
Anh Hai bắt con rắn hổ trâu như bắt một con lươn
Chỉ đến khi đối diện với loài rắn hổ mang tôi mới thấy anh Hai dùng đến gậy hỗ trợ. “Với loài rắn hổ mang thì không thể đùa được, một cái đớp của nó có thể lấy đi tính mạng mình trong phút chốc, không thì cũng phải mất vài chục triệu đồng để thay máu mới có cơ may sống sót. Bản thân tôi chân tay cũng chi chít sẹo đây”- anh Hai chia sẻ.
CHỞ DÚI BẰNG ÔTÔ
Sau khi tham quan tất cả bốn loài rắn có trong trang trại, anh Hai dẫn tôi đi xem các con vật nuôi khác cũng không kém phần rùng rợn. Đó là đàn kỳ đà hơn chục con, nặng cả yến luôn thè cái lưỡi đen tuyền đáng sợ không khác gì loài rồng Komodo bên đất nước Indonexia. Tiếp đó là đàn hon (có nơi gọi là don) hơn trăm con đang rúc vào mấy tấm pờrôximăng “ăn vụng” buồng chuối xanh chúng vừa tha được. Để tạo nguồn thức ăn cho hon, anh Hai trồng rất nhiều chuối, sắn và các cây ăn quả khác, hon tự kiếm ăn như ngoài tự nhiên.
Lúc đầu, tôi cứ tưởng hon là nhím vì trông chúng rất giống nhau, sau nhìn kỹ thì thấy lông của hon dẹt và thân hình nhỏ hơn so với nhím, chỉ khoảng 4 - 5 kg/con. Trong khi người nuôi nhím đang lao đao vì giá xuống thấp anh Hai vẫn bán hon với giá 1,2 triệu đồng/kg mà luôn cháy hàng. Theo anh Hai, sở dĩ hon đắt như vậy vì nuôi chúng khó hơn nuôi nhím rất nhiều, thịt hon ngon hơn thịt nhím nên được khách hàng chuộng, hiện mỗi năm anh Hai vừa bán thịt vừa bán giống cũng thu về được hơn trăm triệu từ hon. 
Từ việc bán dúi thịt và dúi giống, mỗi năm anh Hai thu về hơn tỉ đồng
Nhưng, đem lại nguồn thu nhập lớn nhất cho người đàn ông luôn đi trước và nghĩ khác mọi người này lại đến từ con dúi. Nhưng để sở hữu trang trại với 1.000 con dúi, hơn 1.000 con rắn và hàng trăm con vật giá trị khác, anh Hai nếm trải không biết bao nhiêu mùi vị của thất bại. Sinh năm 1969 trong gia đình nông dân nghèo, chưa học hết cấp một anh Hai đã phải bươn chải làm thuê kiếm sống, trải qua đủ các nghề từ đào vàng, xây dựng đến buôn bán nhưng không nghề nào bén duyên với anh. Chỉ đến khi bập vào nghề chăn nuôi các con đặc sản, người đàn ông này mới chịu ngồi lại một chỗ.
Ngày bắt đầu nuôi rắn theo phương thức hoang dã, anh Hai thấy đàn rắn thưa dần mà không biết nguyên nhân vì sao, trong khi trang trại được xây rất chắc chắn nên không có chuyện rắn bò ra ngoài. Mất cả ngày, đêm phục kích nằm chờ ngoài vườn, anh Hai mới tá hỏa phát hiện thủ phạm chính là lũ cá trê lai dưới ao. Hễ con rắn ráo nào cả gan bơi trên mặt ao, chỉ trong chớp mắt đã bị cá trê lôi tụt xuống nước xâu xé. Sau bận đó, anh Hai phải tát cạn ao bắt hết đám trê lai và chỉ dám thả các loại cá rô phi làm thức ăn cho rắn mòng.
Chị Đặng Thị Tám, vợ anh Hai nhớ, có lần anh đầu tư vào nuôi dế sau không bán được lỗ mấy trăm triệu đồng rồi nuôi nhím cũng đi tong cả trăm triệu. Và con dúi cũng từng lấy không ít mồ hôi nước mắt của vợ chồng anh, ngày mới nuôi dúi, do chưa có kinh nghiệm nên dúi lớn đến đâu là chết đến đấy. Cho ăn cỏ voi dúi chết, chuyển sang ăn khoai lang dúi cũng chết, cuối cùng anh Hai đã tìm được đúng thức ăn hoang dã của dúi để nuôi chúng là tre, chít và mía.
Anh Hai chẳng ngần ngại cho biết, mỗi năm trang trại của anh cung cấp ra thị trường hơn 1.000 con dúi giống và hàng tạ dúi thương phẩm, thu về hơn tỉ đồng. Để nhân rộng mô hình nuôi dúi đến các địa phương, anh Hai bỏ ra gần 500 triệu đồng mua hẳn một chiếc ôtô con chuyên để chở dúi cho khách hàng khắp các tỉnh Bắc - Trung - Nam và thuê 8 nhân công trả lương từ 3 - 6 triệu đồng/tháng chuyên chăm nom dúi đẻ và chặt tre, mía cho dúi ăn hàng ngày.
Tôi dám chắc, ai cũng sẽ "choáng" khi tham quan chuồng nuôi dúi của gia đình anh Hai. Hàng nghìn con dúi béo mũm mĩm chen chúc nhau trong một ô chuồng. Không thể ngờ, loài vật trông chẳng khác gì con chuột này mỗi năm mang về cho gia đình anh hơn tỉ đồng lợi nhuận, cộng 500 triệu tiền rắn, hơn 100 triệu tiền hon, vài chục triệu tiền kỳ đà, trang trại rộng chưa đầy 2.000 m2 của anh Dư Văn Hai thu về ngót nghét 2 tỉ đồng/năm.
Theo: Nongnghiep.vn

‘Sát thủ’ bắn cá ở đáy sông Nhật Lệ

 Chỉ với khẩu súng bắn mũi tên tự chế, chàng trai vùng sông nước bên bờ sông Nhật Lệ (Quảng Bình) đã sống bằng nghề “lặn xuống đáy sông bắn cá” hơn chục năm nay. Đã có  không biết bao nhiêu con cá lớn hàng chục kg đều chết dưới tay anh. Vì những chiến tích đó mà người vùng bờ sông Nhật Lệ ai cũng biết đến anh. Người ta còn gọi anh bằng cái tên “anh chàng sát cá”.

“Kình ngư” nổi tiếng ấy tên Phạm Văn Vượng, SN 1984, ở Tiểu khu 3, thị trấn Quán Hàu, huyện Quảng Ninh.

“Sát thủ” của những loài cá


Chúng tôi tìm đến nhà anh Phạm Văn Vượng vào một ngày mùa đông, mưa phùn, gió bấc.. Ngôi nhà nằm trước cửa biển nên từng cơn gió thốc vào càng tê buốt hơn.

Ngồi nhâm nhi li trà nóng, anh Vượng kể về cái nghiệp “khác người” của mình. Năm 1992, khi anh vừa tròn 8 tuổi thì gia đình chuyển từ miền núi thuộc xã Trường Sơn, huyện Quảng Ninh về sống ngay bên cạnh bờ sông Nhật Lệ.

Rời rừng núi về sống vùng sông nước, bố anh là ông Phạm Trung Sơn đã tự tìm tòi rồi làm súng rồi mưu sinh bằng nghề “ lặn bắn cá”.

“Lúc em 13 tuổi, bố hay cho ngồi thuyền đi xem bố lặn bắn cá. Thấy bố lặn một hồi rồi đưa lên những con cá to em thích lắm. Cứ trông cho mình mau lớn để có thể lặn bắn cá được như bố. Cho đến khi em học xong lớp 9, bỏ học ở nhà rồi theo nghề với bố luôn” - anh Vượng kể về cái nghề của mình.
“Kình ngư” sát cá Phạm Văn Vượng bên “bộ đồ nghề lặn bắn cá” của mình.
 
Kể về những “chiến tích” săn cá của mình trong  hơn chục năm qua, anh Vượng cho biết anh đã bắn hạ hàng chục tấn cá to, nhỏ khác nhau. Những loài cá mà anh bắn thường cá Vược, cá Hồng, cá Nâu, cá Rìa…

Anh cho biết, mỗi lần bắn được cá về là anh nhập cho các nhà hàng. Hiện giá cá Vược anh nhập với giá từ 200 – 250.000đ/kg. Cá Nâu, cá Rìa là loài cá nhỏ, con to nhất chỉ từ 2- 3kg nhưng rất ngon, có giá 350.000đ/kg.

Với loài cá vược, anh Vượng đã nhiều lần hạ được những con hàng chục kg. Vượng kể lần trúng con cá lớn nhất là vào năm 2008, khi anh đi lặn ở sông Gianh thì gặp con cá vược rất to.
Anh đã nín thở nằm bất động, chọn đúng tầm thuận lợi nhất rồi bóp cò. Mũi tên dài xuyên qua con cá ngay. Nhưng nó vùng vẫy mãi. Cuối cùng rồi cũng kiệt sức. Anh đưa về nhà cân lên được đúng 43kg.
“Bữa đó người đến xem đông lắm, ai cũng trầm trồ khen” - anh Vượng chưa hết vui mừng kể lại.

Lần đó, anh chỉ bán nửa con được 3,5 triệu. Một nửa còn lại anh mời làng xóm, bạn bề đến an nhậu tưng bừng hết hàng chục lít rượu.

Những con cá có trọng lượng từ 15 – 20 kg thì theo Vượng, anh đã bắn được rất nhiều, nhớ không hết. Nhưng chuyến đi lặn, Vượng cũng kiếm được hàng chục kg các loài cá to, nhỏ khác nhau.
Anh còn nhớ: “Chuyến em đi được nhiều nhất là năm ngoái (2010), em đi ở Cầu Roòn bắn được 60 cân cả to, nhỏ các loại. Về bán được 6 triệu, còn để lại một ít mời bạn bè đến nhậu nữa”.

Là một người sống phóng khoáng, anh Vượng cho biết, cứ mỗi lần anh đi bắn cá về là dù được nhiều hay ít gì anh cũng giành lại mấy con cá ngon ngon rồi làm mồi, gọi bạn bè đến xum tụ ăn nhậu lai rai.
Có lẽ chính vì thế mà anh càng đam mê cái nghề “có một không hai” của mình hơn.
Loại mũi tên bằng sắt, phía trước có 2 mũi xuyên được dùng để bắn loài cá nhỏ khoảng 10kg trở lại.
Loại mũi tên 1 mũi xuyên dài hơn 1m, dùng bắn hạ loài cá to hàng chục kg.

“Mách nhỏ” kinh nghiệm
Hỏi về đồ nghề,  anh Vượng vào nhà lấy ra 1 khẩu súng tự chế bằng gỗ rất đơn giản. Khẩu súng đó được bắn bằng sức căng của những sợi dây thun cắt từ quai của tông Lào, mà theo anh, phải là loại tông thiệt thì sức co giãn của nó đủ mạnh để đẩy mũi tên đi thật mạnh, xuyên thủng loài cá lớn.

Mũi tên rất nhọn được anh làm từ thanh sắt 6. Anh thường dùng 2 loại mũi tên. Loại mũi tên ngắn hơn, phía trước là 2 mũi xuyên dùng để bắn loài cá nhỏ cho nó chết tại chỗ, không động đậy làm đàn cá phát hiện rồi chạy mất.
Còn mũi tên dài hơn phía trước chỉ một mũi xuyên thì bắn loài cá to hàng chục kg.

Khi lặn bắn cá, anh Vượng dùng một chân vịt, kính lặn và chiếc súng tự chế đã lắp mũi tên sẵn. Lặn một hơi thật dài xuống tận đáy sông thấy cá là anh nằm yên không động đậy rồi nín thở chọn cự li khoảng 3 m, khi con cá ở tư thế bơi ngang trước mặt là anh bóp cò.
Sức mạnh của dây thun đẩy mũi tên bằng sắt nhọn hoắt xuyên qua con cá.

Ở đầu mũi tên có buộc sợi dây cáp dài, phía trên mặt nước, sợi dây đã được buộc vào phao để khi con cá trúng tên lồng lộn bỏ chạy thì đã có chiếc phao “bám” theo để người săn cá lần theo đó mà không cho con cá thoát.

Lý giải vì sao không trang bị bình ô xi để lặn cho lâu, khỏi mất sức, anh Vượng cười nói: “Đeo bình ô xi vô, khi lặn thở bong bóng sẽ phun lên khiến đàn cá phát hiện sẽ bỏ trốn mất”.

Anh Vượng cũng cho biết, về mùa đông mưa rét, hay những khi nước đục là không thể đi lặn bắn cá được. Muốn đi cũng phải chọn đúng thời điểm thủy triều đạt đỉnh, mặt nước phẳng thì mới dễ lặn, dễ bắn, và lúc đó cá mới hay xuất hiện.
Theo kinh nghiệm của anh, cá thường hay trú ẩn ở những ngầm đá, gầm cầu.
Anh Vượng đang hướng dẫn nguyên tắc hoạt động của khẩu súng mà anh tự chế.
Sông Nhật Lệ ngay trước cửa nhà, nơi tuổi thơ, và cho đến bây giờ vẫn là “vựa cá” mà anh đã bắn được không biết bao nhiêu con cá lớn.
 
‘‘Sẽ theo nghề suốt đời’’ 

Nói về cái nghề “độc” của mình, anh Vương chia sẻ: “Cái nghề này không khó nhưng không mấy ai làm được. Ngay như gia đình anh, có đến 4 anh em trai nhưng chỉ anh là có duyên nối nghiệp của bố.

Anh còn kể, mấy lần đi cùng 2 thằng em, hai đứa bắn cá to là bị trượt, cá bỏ chạy toán loạn làm cho cả đàn chuồn đi hết. Theo anh: “Đã bắn không thành rồi thì lần sau đến những điểm đó đừng hòng nhìn thấy cá nữa. Nó đã bỏ đi biệt tăm hết cả. Chính vì thế khi đi bắn cá, anh không cho em của mình lặn, mà chỉ ngồi trên thuyền chờ anh lặn bắn rồi đưa cá lên.

Hay như bạn bè anh, thấy anh theo nghề “bở ăn” hay được cá lớn, bán được nhiều tiền nên bạn bè cùng lứa đến làm quen, học hỏi, làm súng rồi cùng đi theo anh Vượng lặn bắn cá nhưng chẳng bắn được.
“Mấy thằng bạn cứ nói tại súng của họ làm không chuẩn. Đến khi em đưa súng của mình rồi cùng đi cho họ lặn bắn mà cũng có bắn được mô” - Vượng kể.

Ngắm khẩu súng gỗ tự chế, vuốt ve những mũi tên bằng sắt dài hơn 1m, sắc nhọn rợn người, anh Vượng tỏ vẻ háo hức: “Trông cho mau qua đi cái mùa đông rét buốt ni mà đi lặn kiếm tiền tiêu rồi làm nồi lẩu mời bạn bè, anh em nhậu bữa cho vui. Chứ lâu không đi thấy ngứa ngày khó chịu lắm”.

Khi tôi hỏi tại sao anh gắn bó được cái nghề lạ thế này, anh Vượng cười hiền: “Có lẽ cũng tại cái duyên với nghề, em đi hay gặp cá lắm nên rất có hứng. Với lại, trước lúc chết, bố có dặn em: “Nhà 4 anh em trai, chỉ có con có duyên nối nghề của bố được thôi. Đừng có bỏ nghề con nha”. Cũng vì rứa nên em sẽ theo nghề này suốt đời”.
theo: Vietnamnet